Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2011

Phẫu diện đất VN 50

Ký hiệu phẫu diện:    VN 50
Địa điểm:    Đồi nhà anh Cao Kỳ Nghị, Thôn Tân Đảo, Xã Ninh Ích,  Huyện Ninh Hòa, Tỉnh Khánh Hòa
Tọa độ:   Vĩ độ:  12° 23’10” B            Kinh độ: 109° 10’ 30” Đ
Độ  cao:  Tương đối: 85 m (ASL)         Tuyệt đối:  
Độ dốc:   15° - 20°.      Hướng dốc:  Tây  -  Đông
Hiện trạng thảm thực vật:   Điều, xoài phát triển bình thường
Chế độ canh tác:     Cây công nghiệp
Tên đất:     
- Việt Nam:   Đất vàng đỏ trên đá macma axít.
- FAO-UNESCO:   Haplic Acrisols
- USDA (Soil Taxonomy)   Eutrustults
Ngày lấy mẫu:   29 - 12 - 1999
Người điều tra:   Trương Xuân Cường, Nguyễn Văn Tý     



Vị trí trên bản đồ




HÌNH THÁI PHẪU DIỆN

Ký hiệu
tầng đất
Độ sâu
tầng đất, cm

Mô tả phẫu diện
Ap
0 - 10
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/4; Khô: 2,5YR 3/6); sét pha cát; khô; tơi; xốp; khô bở; nhiều rễ cỏ; trên mặt có lớp cát mỏng và đá vụn ; có hiện tượng rửa trôi mạnh trên bề mặt; chuyển lớp rõ.
AB
10 - 35
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/4; Khô: 2,5YR 3/4); sét pha cát; hơi ẩm; cứng chặt; có nhiều ổ cát đá mịn mỏng trên bề mặt; có nhiều hang kiến; còn rễ cây nhỏ; các vệt nâu đen nhỏ xác thực vật; chuyển lớp từ từ.
Bs
35 - 80
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/5; Khô: 10R 4/8); sét pha cát; ẩm; hơi chặt; khi bóp thì tơi bở; có lẫn những hạt đá vụn F>1 ly có mầu vàng đến trắng; nhiều hang kến nhỏ; chuyển lớp từ từ.
BC1
80 - 100
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/5; Khô: 10R 4/8); sét pha cát; ẩm; chặt; nhiều hạt đá vụn thô hơn tầng trên  có mầu đen vàng xám đến trắng; ít hang kiến nhỏ; chuyển lớp rõ.
BC2
100 - 125
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/5; Khô: 2,5YR 4/6); thịt nhẹ pha sét và cát; ẩm; lẫn khoảng 20-30% đá vụn dạng sỏi cơm có mầu nâu vàng đen đến trắng; chuyển lớp rõ.
C
125 - 160
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/5; Khô: 2,5YR 4/6); thịt nhẹ pha sét cát; ẩm; có nhiều đá vụn bán phong hóa mầu đen xám vàng đến trắng; có chỗ kết thành những đám dầy đặc.

Đá phiến sét vôi, Lạng Sơn

Tên khoa học: Đá phiến sét vôi
Địa điểm lấy mẫu: Lạng Sơn
Mô tả:
Hình ảnh:





Granitogneis, phức hệ Đèo Cả, Nha Trang

Tên khoa học: Granitogneis
Địa điểm lấy mẫu: Phức hệ Đèo Cả, Nha Trang
Hình ảnh:



Tài nguyên đất đang bị đe dọa

Đó là nhận định của các nhà khoa học tại hội thảo “Quản lý tổng hợp Tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của đất nước” do trường Đại học nông nghiệp Hà Nội tổ chức ngày 1/10 tại Hà Nội.

Theo các nhà khoa học, tài nguyên đất của Việt Nam rất hạn chế. Trong gần 33 triệu ha đất chỉ có khoảng 10 triệu ha là đất được bồi tụ từ các con sông hình thành nên những vùng đồng bằng màu mỡ và hiện loại đất này đã bị khai thác tới hạn. Diện tích còn lại (hơn 22 triệu) là địa hình đất cao, dốc không có nhiều giá trị sử dụng.


Tập quán canh tác không phù hợp làm cho tình trạng xói mòn đất diễn ra nghiêm trọng. (Ảnh Minh Cường)

TS Trần Đức Toàn, Viện thổ nhưỡng nông hóa (Viện Khoa học nông nghiệp Việt Nam) cho biết, trong số diện tích đất cao đó chỉ có 4,5 triệu ha là có thể sản xuất nông nghiệp do có độ dốc dưới 15 độ; 3 triệu ha có thể kết hợp sản xuất nông- lâm nghiệp do có độ dốc từ 15-25 độ và có tới 13,5 triệu ha đất dễ biến động khi có sự thay đổi về điều kiện sinh thái không thể sản xuất, có độ dốc trên 25 độ.

Ở những địa hình đất cao, dốc, tình trạng xói mòn đất diễn ra phổ biến và trầm trọng. Theo tính toán, lượng đất xói mòn ở nước ta dao động từ 1- 9 tấn/ha kéo theo sự suy giảm lượng dinh dưỡng trong đất mất theo như lượng OM là 138kg/ha; N là 8kg/ha; P2O5 là 6kg/ha và K2O là 8kg/ha.Điều này cũng có nghĩa là làm giảm đáng kể năng suất cây trồng.

Nguyên nhân gây xói mòn đất bao gồm nhiều yếu tố tác động như địa hình, khí hậu, tập quán canh tác chưa phù hợp…. “Nếu không có biện pháp để quản lý hiệu quả tài nguyên đất; thay đổi phương thức canh tác phù hợp; giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu thì tình trạng mất đất do xói mòn ở Việt Nam sẽ còn tiếp tục diễn ra mà hậu quả trước mắt là sự suy thoái đất ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất của người dân, giảm tính ổn định của các hệ thống canh tác, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân và đe dọa an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình”. TS Toàn nhận định.

Mỗi năm bình quân trên thế giới có 7,5 tỷ tấn đất mất đi do xói mòn. Ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ la tinh lượng đất xói mòn trung bình lên tới 30-40tấn/ha.

Minh Cường

Lạm dụng dụng thuốc trừ sâu gây phát thải khí nhà kính

Kết quả nghiên cứu đất trồng lúa ở 5 tỉnh ĐBSH là Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định và Thái Bình của các nhà khoa học Trường đại học Nông nghiệp Hà Nội cho thấy, mỗi ngày, các ruộng lúa nước phát thải một lượng khí metan (CH4) khá cao góp phần làm trái đất nóng lên.

Theo đó, tốc độ phát thải khí metan của đất lúa trung bình tại 5 tỉnh là 52mg CH4/m2/giờ, tương đương hơn 1.200 CH4/m2 /ngày.


Nông dân đang lạm dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu. Ảnh chụp tại Mê Linh- Hà Nội (Ảnh: Minh Cường)

Nam Định là tỉnh có tốc độ phát thải khí metan cao nhất, gần 1.500mg CH4/m2 /ngày PGS.TS Nguyễn Hữu Thành cho biết, lượng phát thải khí metan trong vụ mùa thường lớn hơn so với vụ xuân do tình trạng ngập nước thường xuyên. Khi ngập nước, các chất hữu cơ được phân giải trong điều kiện yếm khí sẽ sinh ra CH4, CO2, H2S… ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa và phát thải ra môi trường gây hiệu ứng nhà kính.

Việc đốt rơm rạ trên đồng ruộng sau khi thu hoạch và sử dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học làm gia tăng tình trạng phát thải khí metan. Trong tự nhiên có hai nguồn sản sinh khí metan chính là khu vực đầm lầy và trên các ruộng lúa nước.

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cũng cho thấy, lượng phân hữu cơ người dân bón cho lúa rất thấp chỉ khoảng 0,5-1 tấn/ha, thấp hơn rất nhiều so với khuyến cáo của các trung tâm khuyến nông các tỉnh (từ 8-10 tấn/ha). Nhiều nơi, người nông dân thậm chí không sử dụng phân hữu cơ trong khi lại sử dụng quá nhiều phân bón hóa học.

Minh Cường

Giống lúa “đẻ” ra hàng tỷ USD

Nông dân ở các nước Đông Nam Á đang thu hoạch giống lúa luân canh tăng vụ, có giá trị lên tới hơn 1.6 tỷ USD/ha/ năm.

Báo cáo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế Australia (IRRIA) đã cho biết như trên.


“Chuộng” giống lúa năng suất cao. Ảnh: Agricorner.com

Bên cạnh đó, giống lúa mới của IRRIA đã làm tăng thêm thu nhập cho người nông dân ở các nước Đông Nam Á. Cụ thể, ở Việt Nam, người nông dân canh tác giống lúa này đạt 127 USD/ha, Indonesia 76 USD/ha và Philippines đạt 52 USD/ha.

Cùng với đó, các giống lúa nước của IRRIA không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, mà còn tăng sản lượng lúa gạo đối phó với sức ép gia tăng dân số toàn cầu.

“Để tạo ra các giống lúa mới sản sinh ra hàng tỷ USD trên những cánh đồng lúa thì đòi hỏi các nhà khoa học nghiên cứu “đẻ ra” giống lúa có năng suất cao, thích ứng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt…”, ông Rudd Ngoại trưởng Australianhận định.

V.Trường (Seoul Times)

Biến rơm rạ thành... thuốc trừ sâu

Các nhà nghiên cứu khoa học  Ai Cập cho biết họ đã phát triển thành công công nghệ biến rơm rạ thành giấy, thuốc trừ sâu đồng thời giúp cắt hàng tấn cac-bon dioxit thải vào môi trường từ việc đốt rơm rạ của nông dân.

Công nghệ mới có khả năng chiết xuất 65 % cellulose từ  rơm rạ thành nguyên liệu để sản xuất giấy, bìa cat-tông và hợp chất phenolic tự nhiên trong khi với công nghệ hiện tại chỉ tận dụng được 30%, Maha Al Khatib, một trong những nhà nghiên cứu cho biết.



Công nghệ này cho phép biến rơm rạ thành thuốc trừ sâu. (Ảnh minh họa)

Phenolic được tinh chế để sản xuất thuốc trừ sâu không độc hại với sức khoẻ con người mà đặc biệt hiệu quả đối với ruồi và muỗi Culex pipiens, một loại muỗi truyền bệnh giun chỉ bạch huyết, bệnh nhiễm trùng giun gây chết người có mặt khắp Ai Cập và nhiều quốc gia Châu Phi.

Theo ước tính, công nghệ có thể mang lại 85 triệu USD lợi nhuận từ 1.000.000 tấn rơm rạ tái chế mỗi năm, và tạo việc làm cho khoảng 100.000 người. Không những thế còn tránh phát thải 85.000 tấn khí carbon dioxide từ việc đốt rơm vào không khí.

Nghiên cứu đã được cấp bằng sáng chế năm 2010. Kết quả của công trình đã khuyến khích Chương trình Phát triển Nghiên cứu và Đổi mới, một chương trình được tài trợ bởi Liên Minh Châu Âu nhằm tăng cường đổi mới và chuyển giao công nghệ ở Ai Cập.

Theo Galal A. Nawwar, người đứng đầu đơn vị nghiên cứu, rơm rạ là một ví dụ nổi bật nhất của chất thải nông nghiệp tại Ai Cập.

“Hàng năm có tới 4 triệu tấn rơm rạ bị đốt cháy. Điều này không những gây lãng phí về kinh tế mà còn gây ô nhiễm không khí”, Galal A. Nawwar nói.

Dự kiến công nghệ mới sẽ được ứng dụng tại các nông trại canh tác lúa ở Noubariya, cách Cairo 120 km vào tháng 12/2011.

Vấn đề còn lại phụ thuộc vào việc truyền đạt công nghệ cho nông dân và cách mà nông dân áp dụng sao cho hiệu quả, GS Gamal M. Siam, làm việc tại ĐH Khoa Kinh tế Nông nghiệp của Đại học Cairo cho biết.

Song Hà (Theo Scidev.net)

Công nghệ hạt giống của Việt Nam đang ở đâu?

Lâu nay, sản xuất giống cây trồng của nước ta còn nhiều yếu kém là bởi chưa xây dựng được một chiến lược dài hơi và đầu tư thích đáng cho công tác này. Đã đến lúc, ngành nông nghiệp phải nhìn nhận lại và bắt tay vào xây dựng chiến lược cho hạt giống.

Với số lượng hạt giống sản xuất trong nước còn ít ỏi, hàng năm Việt Nam phải nhập một lượng lớn hạt giống từ nước ngoài, trong đó phần lớn từ Trung Quốc.

Thiếu nguồn “giống nội”



Mô hình ươm tạo giống hoa lan chất lượng cao (Ảnh: Ánh Tuyết)


Hiện hạt giống lúa lai trong nước mới chỉ đáp ứng được 20 - 25%, còn lại trên 70% phải nhập từ nước ngoài, chủ yếu từ Trung Quốc. Việt Nam mới chỉ chọn tạo có 4 giống lúa lai ba dòng và được công nhận chính thức (HYT83, HYT100, Bác ưu 903KBL, Nam ưu 1) cùng 5 giống công nhận sản xuất thử (HYT92, Nam ưu 603, Nam ưu 604, CT16, LC25). Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vựa lúa lớn nhất nước ta với 1,85 triệu ha đất lúa, cung cấp đến 80% lượng gạo xuất khẩu của cả nước.

Tuy nhiên, theo TS Lưu Hồng Mẫn, Viện phó Viện Lúa ĐBSCL thì một trong những khâu yếu trong sản xuất lúa ở ĐBSCL hiện nay là thiếu các giống lúa năng suất và chất lượng cao, thích nghi với đặc thù từng vùng sinh thái như phèn, mặn…Hệ thống cung cấp giống nhà nước hiện mới chỉ đáp ứng 20% giống, còn lại nông dân phải sử dụng 80% giống kém chất lượng, trôi nổi.

Theo Bộ KH-CN, trong vòng 10 năm trở lại đây, các nhà khoa học đã tạo và tuyển chọn được gần 170 giống lúa mới. Kết quả đó không thể phủ nhận; song công việc này được cho là chưa bền vững và chưa có đột phá về năng suất, chất lượng. Với lúa thuần, Việt Nam chọn tạo được 92,8%, song diện tích trồng các giống đó chỉ khoảng 65-70%. Với lúa lai, do điều kiện khí hậu nên sản xuất hạt lai, nhất là lai 3 dòng rất khó khăn, dẫn đến sản xuất trong nước mới chỉ đạt 3.200 - 3.500 tấn, đáp ứng khoảng 20-25% nhu cầu, còn lại phải nhập từ Trung Quốc.

Không chỉ thiếu về nguồn cung, hiện tượng thoái hóa giống cây trồng, nhất là những giống tốt, có thương hiệu của nước ta cũng đang gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp như thoái hóa giống cà phê ở Tây Nguyên, giống lúa ở các tỉnh phía Bắc…

Nguyên nhân là do khâu quy hoạch sản xuất còn yếu, người dân gieo trồng nhiều loại cây trên một cánh đồng dẫn đến sự lai tạp, giao phấn chéo. Đặc biệt, 80% nguyên nhân khiến cho giống bị thoái hóa là do quá trình thu hoạch, phơi sấy, bảo quản… không đảm bảo.

GS Trần Đình Long, Chủ tịch Hội Giống cây trồng Việt Nam cho biết, tại ĐBSCL, lượng giống lúa tốt  chỉ chiếm khoảng 25 - 30%, còn lại là giống nhân dân tự làm, chất lượng thấp, làm giảm năng suất từ 10 - 15%.



Hạt giống rau, hoa các loại. (Ảnh chỉ có tính chất minh họa)

Xây dựng chiến lược tổng thể

Theo GS Trần Đình Long, Nhà nước cần xây dựng chiến lược tổng thể và đồng bộ phát triển giống cây trồng, trong đó nên lựa chọn một số giống cây chủ lực để phát triển thương hiệu. Quan trọng hơn vẫn là ứng dụng công nghệ sinh học, khai thác thế ưu thế lai, công nghệ chuyển ghép gen kết hợp với lai tạo và chọn lọc truyền thống để chọn tạo các giống lúa thích nghi với điều kiện bất lợi của khí hậu, đất đai, sâu bệnh,…

Theo ông Vũ Hồng Quảng – Viện Nghiên cứu lúa, Đại học Nông nghiệp I cho biết: Để tháo gỡ bài toán khan hiếm giống thì cần phải có sự phối hợp giữa 4 nhà: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp và nhà nông. Đặc biệt, nhà khoa học phải thực sự “nhập cuộc”, tham gia vào quá trình sản xuất giống, tạo ra nhiều giống cây trồng có chất lượng cao.

Thứ trưởng Bộ KH-CN Lê Đình Tiến nhấn mạnh: phải xã hội hoá lĩnh vực này, nếu không sẽ không đáp ứng được nhu cầu và không tiếp cận được thị trường. Tuy nhiên, Thứ trưởng cũng cho rằng, khi xã hội hoá thì giống cây nông, lâm nghiệp, vật nuôi, thủy sản vẫn cần phải có sự quản lý của Nhà nước.

Ánh Tuyết

Giống lúa mới giải bài toán chậm vụ

Các nhà khoa học Bộ môn Công nghệ sinh học, Viện Cây lương thực và cây thực phẩm (Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam) vừa đã chọn tạo thành công giống lúa thơm chất lượng cao HDT8 bằng phương pháp lai hữu tính kết hợp với chọn kiểu gene qui định tính trạng mùi thơm.


Khảo nghiệm giống lúa HDT8 tại tỉnh Hải Dương (Ảnh: Viện Cây lương thực và cây thực phẩm)

Giống HDT8 được đánh giá là có nhiều đặc tính nổi trội so với các giống lúa khác như thời gian sinh trưởng ngắn (vụ Xuân từ 130-135 ngày, vụ Mùa từ 102-103 ngày), đẻ nhánh khỏe, chất lượng gạo ngon, kháng sâu bệnh tốt, khả năng thích ứng rộng, cứng cây, bông to- dày, hạt xếp gối, có năng suất cao hơn hẳn giống đối chứng đạt trung bình 57 tạ/ha, thâm canh tốt đạt trên 60 tạ/ha. Tỷ lệ gạo lật tương đối cao (80%), hạt gạo dài, hàm lượng amylase khoảng 23-24%, cơm mềm, đậm, không dính.

Ths. Dương Xuân Tú, trưởng Bộ môn Công nghệ sinh học cho biết, giống lúa thơm HDT8 có chất lượng cao, thích hợp cho sản xuất cả vụ Xuân và vụ Mùa tại các tỉnh phía Bắc, nhằm giải quyết tình trạng chậm vụ do rét đậm, rét hại kéo dài hồi đầu năm 2011. 

Giống đã qua khảo nghiệm quốc gia tại một số vùng sinh thái của tỉnh Hải Dương và được đánh giá là triển vọng, đã đề nghị cho sản xuất đại trà vào vụ tới. 

Minh Cường

“Ông kỹ sư” trên đồng ruộng châu Phi



Một nông dân mới học lớp 6 chế ra máy sạ lúa theo hàng chạy ngời ngời trên đồng ruộng. Các chuyên gia ở châu Phi qua coi đã ký hợp đồng mua máy ngay lập tức. Đã vậy, họ còn nhờ anh đưa người qua làm cố vấn kỹ thuật.

Quê ở xã Láng Biển, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, Phạm Thanh Liêm (36 tuổi) mê cơ khí từ nhỏ. Lớn lên lập gia đình, anh gom chút vốn liếng mở xưởng sửa máy nông cụ. Những chiếc máy xới, máy cày... bị trục trặc vô tay anh là chạy tốt!

Mất bốn năm để “máy thay người”


Rồi anh tiến tới cải tiến máy gặt đập liên hợp của Trung Quốc. Cái máy gốc nặng nề, xuống ruộng là lún, chạy vài bữa là hư, lúa suốt ra bị “sống”, rơm vô máy bị kẹt... Lại thêm đồ phụ tùng tốn kém nên ai cũng ngán. Anh Liêm cải tiến nó nhẹ hơn, máy chạy êm, lúa sạch trơn, rơm không kẹt, xuống ruộng hết lún. Bà con khoái quá đặt mua nườm nượp.



Làm được vậy nhưng anh vẫn thấy chưa đã. Bởi trong nghề ruộng, nông dân vẫn còn nhiều khâu tốn sức lao động như bón phân, gieo sạ, xịt thuốc... chi phí cao, mất thời gian và công sức. Một lần, có nông dân vác đến cái máy sạ hàng bị gãy gọng và than: “Gọi máy sạ hàng nhưng nó chỉ có phần “máy” là cái hộc đựng lúa tự xoay, thực chất cũng còn “sức người thay trâu”, phải còng lưng kéo. Phải chi có cái máy mà mình ngồi luôn ở trển, chỉ cần cầm lái điều khiển, máy chạy tới đâu sạ lúa tới đó. Vậy mới gọi là máy chớ!”. Tiếng “rên” của nông dân nọ khiến anh Liêm suy nghĩ.

Theo thầy Xuân qua châu Phi làm tư vấn


Nghe tiếng anh Liêm, GS.TS Võ Tòng Xuân đến mời anh tham gia dự án “Giúp nông dân châu Phi trồng lúa” với nhiệm vụ tư vấn kỹ thuật sử dụng máy nông nghiệp. Anh gãi tai lắc đầu: “Em mới học xong lớp 6 mà biết gì thầy, chuyện đó để cho kỹ sư họ làm”. Ông Xuân nói: “Không có bằng cấp mà làm được công việc của kỹ sư thì còn hơn kỹ sư. Tôi cần người làm được việc chớ không cần người có bằng cấp”.

Cuối năm 2009, anh Liêm cùng thầy Xuân qua châu Phi để tư vấn cho đối tác Mozambique về máy nông nghiệp. Tại đây, người ta chỉ những chiếc máy cày John Deere đồ sộ và nặng nề như con trâu mộng nhờ anh Liêm cải tiến, thay bánh xe cao su của John Deere bằng bánh lồng như ở Việt Nam. “Tôi làm không được vì máy này nặng quá” - anh Liêm từ chối và mô tả cho ông Nuno Unige, giám đốc Công ty LAP/Ubuntu, về hoạt động của những chiếc máy sạ, máy gặt đập liên hợp của Việt Nam. Tức mình, ông Nuno Unige bay sang Việt Nam, tới tận Láng Biển coi máy.



Tới nơi, thấy xưởng cơ khí lèo tèo 50m2 của anh Liêm chỉ có vài cái máy tiện, hàn... lỏ nhỏ, ông Nuno “xìu” xuống như bị dội gáo nước lạnh. Nhưng khi ra đồng, thấy máy sạ Thanh Liêm bon bon trên ruộng, lúa sạ xuống đều tăm tắp và máy gặt đập chạy rào rào, quào cắt lúa phía trước, suốt lúa phía sau, ông mê tít. Lúa sập, lúa ngã máy cũng không chê!

Thay vì mua máy John Deere cả ngàn USD, ông quyết định mua liền năm máy sạ và năm máy gặt đập liên hợp gửi về Mozambique, đồng thời yêu cầu anh Liêm gửi “chuyên gia” giỏi qua giúp chuyển giao công nghệ, kể cả kỹ thuật trồng lúa. Thế là anh Liêm cử năm “nông dân sản xuất giỏi” qua huấn luyện cho nông dân và thợ của Mozambique. Anh kể: “Người dân châu Phi gọi tụi tui là “ông kỹ sư” không hà. Nhưng đó chỉ là những nông dân giỏi làm ruộng và rành nghề cơ khí, chớ chẳng có bằng cấp gì ráo”.

Sau Mozambique, đại diện ngành nông nghiệp của Sudan (khi đó chưa tách nước) cũng đặt mua 10 máy gặt đập liên hợp. Đưa máy đi rồi, gửi người làm chuyên gia, anh Liêm còn phải tính chuyện đưa phụ tùng qua thay. “Chớ ở bển biết kiếm đâu ra phụ tùng. Mới tháng rồi phía Mozambique phải cử người bay cả ngàn cây số qua Việt Nam chỉ để mua... hai cái bạc đạn” - anh kể.
Theo Yahoo

Việt Nam - Nhật Bản: Hợp tác khai thác đất hiếm



Tân Hoa Xã dẫn nguồn tin Kyodo ngày 9/10 cho biết phó thủ tướng Nhật Bản Matsushita đang ở thăm Việt Nam đã có cuộc hội đàm với Bộ trưởng Nông nghiệp và Thương mại Việt Nam Vũ Huy Hoàng, hai bên tiến hành thảo luận về hợp tác khai thác đất hiếm tại Việt Nam.

Sau cuộc hội đàm ông Matsushita đã cho biết kế hoạch hợp tác này không chỉ tiến hành khai thác tài nguyên mà các vấn các đề khác cũng rất quan trọng và cần được quan tâm như bảo vệ môi trường và xây dựng cơ sở hạ tầng.

Đất hiếm – Nguồn tài nguyên không thể thiếu trong ngành công nghiệp của Nhật Bản.
Đất hiếm – Nguồn tài nguyên không thể thiếu trong ngành công nghiệp của Nhật Bản.

Ông còn cho biết trong cuộc hội đàm hai bên đã tiến hành thảo luận kỹ lưỡng các hạng mục có liên quan, tranh thủ thời gian và điều kiện để hoàn thành việc ký kết trước chuyến thăm của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào cuối tháng này tới Nhật Bản.

Trong hội nghị thượng đỉnh Nhật - Việt tháng 10 năm 2010, Thủ tướng tiền nhiệm Nhật Bản Nato Kan đã thảo luận và đạt được thỏa thuận hợp tác khai thác đất hiếm với Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng. Hiện nay chính phủ hai nước đang tiến hành thảo luận các thỏa thuận hợp tác và điều khoản cụ thể.

Cùng với động thái này Tân hoa xã ngày 8/10/2011 cho biết chính phủ Nhật Bản đang có kế hoạch thăm dò tài nguyên đất hiếm với quy mô lớn trên khu vực biển Thái Bình Dương, văn phòng chính phủ Nhật Bản cho biết năm 2012 chính phủ Nhật Bản sẽ đầu tư 22 tỷ yên Nhật với thời gian 4 năm để đóng mới một tàu thăm dò khảo sát với các trang bị hiện đại bao gồm máy siêu âm có độ chính xác cao và một Robot để tiến hành các công việc tìm kiếm thăm dò khảo sát đất hiếm.

Kế hoạch này bao gồm các công việc tiến hành khảo sát nguồn tài nguyên đất hiếm ở xung quanh các đảo của Nhật Bản và trên khu vực biển Thái Bình Dương.

Theo điều tra sơ bộ của trường Đại học Tokyo cho thấy khu vực biển Thái Bình Dương gần đảo Okinawa của Nhật Bản trữ lượng đất hiến rất dồi dào, theo ước tính trữ lượng có thể vượt qua trữ lượng ở trên đất liền khoảng hơn 1000 lần.

Nguồn tài nguyên đất hiếm được coi là nguồn tài nguyên cần thiết cho ngành công nghiệp điện tử và ô tô của Nhật Bản.
Theo Đất Việt

Phát hiện trữ lượng đất hiếm khổng lồ tại Afghanistan


Mới đây một trữ lượng đất hiếm khổng lồ vừa được phát hiện tại miền Nam Afghanistan. Theo ước tính của các nhà khoa học, dựa trên nhu cầu hiện tại, 1.000.000 tấn đất hiếm vừa được tìm thấy trong đó có antan, xeri và neodymium, có thể cung cấp đủ cho cả thế giới trong vòng 10 năm tới.

Mỏ khai thác đất hiếm ở Trung Quốc.
Mỏ khai thác đất hiếm ở Trung Quốc.

Tuy nhiên, theo Robert Tucker, nhà khảo sát địa chất Mỹ, người dẫn đầu đoàn nghiên cứu, số lượng đất hiếm tại đây có khả năng lớn hơn nhiều vì đặc thù địa hình tại khu vực khảo sát, gần biên giới Pakistan, là khu vực nguy hiểm nhất Afghanistan nên các nhà khoa học chưa thể xác định chính xác con số trên thực tế.

“Tôi cho rằng tính toán của chúng tôi chưa chính xác. Nếu chúng tôi có thêm thời gian, và nhân lực, chắc chắn khám phá sẽ không dừng lại ở đó", Robert Tucker cho Scientific American biết trong một cuộc phỏng vấn.

Với phát hiện trên, Afghanistan trở thành quốc gia có trữ lượng đất hiếm lớn thứ 6 thế giới đứng sau Trung Quốc (50 triệu tấn), Hoa Kỳ (12 triệu tấn), Úc (5,2 triệu tấn), Ấn Độ (1,1 triệu tấn)….

Đất hiếm là những nguyên tố quý, hiếm có trong lòng đất, được sử dụng nhiều trong các ngành công nghệ cao như công nghệ thực phẩm, y tế, gốm sứ, máy tính, màn hình tivi màu, ô tô thân thiện với môi trường, nam châm, pin, xúc tác lọc hoá dầu, tên lửa, radar... Dù là tài nguyên quý, nhưng trong đất hiếm chứa nhiều nguyên tố độc hại, có tính phóng xạ. Vì thế, nếu khai thác không đúng quy trình kỹ thuật có thể gây ô nhiễm môi trường.
Theo Đất Việt

Trồng rừng trên mỏ than



Tại Indonesia, một mỏ than cũ đã được công ty khai thác khoáng sản cải tạo thành công để trồng rừng.

Theo nhật báo Kompas (Indonesia), khó có thể tưởng tượng khu đồi xanh mướt những hàng keo và tràm ở phía nam đảo Sumatra trước đây là một mỏ than khổng lồ, cằn cỗi, với những hố sâu hun hút. Nhưng sau khi ngưng khai thác vào đầu thập niên 1990, Công ty mỏ PT Bukit Asam đã có kế hoạch đầu tư mạnh mẽ cho việc cải tạo khu vực này.

Cách đó không xa là mỏ Air Laya, quang cảnh hoàn toàn trái ngược với một hố lõm rộng 3.350 ha và sâu 110 mét. Tuy nhiên, xung quanh đó có sự sắp xếp rất đáng chú ý: từng lớp than được xếp xen kẽ với lớp đất màu nâu đỏ, mỗi lớp dày đến 8 mét. Đây chính là “chiến lược”mà hãng PT Bukit Asam đã áp dụng hàng chục năm trước đây tại khu mỏ cũ, giờ là vùng rừng nhân tạo xanh tốt. Báo Kompas dẫn lời ông Achmad Sudarto - một lãnh đạo của công ty, cho biết: “Ngay từ khi bắt đầu việc khai thác, chúng tôi đã “để dành” ở bên cạnh những lớp đất phía trên của mỏ than để sau này có thể dùng lại”. Sau khi dùng chính phần đất “cất sang một bên” này để lấp mỏ than, PT Bukit Asam đã cho bón các loại phân sinh học nhằm “kích hoạt”lại sự màu mỡ của khu vực. Nếu không có kế hoạch được chuẩn bị kỹ lưỡng, ngay cả một cọng cỏ cũng không thể mọc ở các hố sâu rất nghèo dinh dưỡng của khu mỏ “hết hạn sử dụng”.

Nếu có kế hoạch cải tạo đất lâu dài, các mỏ than không còn là “điểm đen” môi trường - (Ảnh: Le Figaro)
Nếu có kế hoạch cải tạo đất lâu dài, các mỏ than
không còn là “điểm đen” môi trường - (Ảnh: Le Figaro)


Việc khai thác khoáng sản thường ảnh hưởng xấu đến môi trường, nhưng nếu mọi công ty đều có kế hoạch cải tạo đất thì ít nhất cũng sẽ giúp “băng bó” vết thương cho thiên nhiên. Thậm chí, trong trường hợp khu đồi keo-tràm nhân tạo của PT Bukit Asam, tình trạng còn trở nên tốt hơn so với trước khi khai thác. Ông Sudarto khẳng định: “Lúc công ty chúng tôi chưa hoạt động, vùng này rất cằn cỗi, hầu như chỉ có cỏ dại mọc bừa nhưng nay đã trở thành một khu đồi cây cối tốt tươi”.

Nhiều khu mỏ cũ của PT Bukit Asam cũng đang trong quá trình cải tạo đất để trồng rừng. Vẫn là tên tuổi lớn trong ngành khai khoáng với sản lượng 12,9 triệu tấn than trong năm 2010 nhưng công ty này đã chứng tỏ được chiến lược kinh doanh “xanh” và được Bộ Môi trường Indonesia khen thưởng. Từ nhiều năm qua, PT Bukit Asam đã trích 4.200 rupiah (gần 10.000 đồng) ở mỗi tấn than thành phẩm để tạo kinh phí cho các kế hoạch cải tạo đất khá đắt đỏ của mình. Nhờ vậy, đến nay, quỹ “xanh” của hãng đã tích lũy được khoảng 200 tỉ rupiah (469 tỉ đồng). PT Bukit Asam bắt đầu tính đến việc cải tạo những khu mỏ đã hết sử dụng ở gần nhau thành một khu rừng nhân tạo rộng 5.394 ha để dân chúng trong vùng có thể cắm trại, du khảo vào năm 2043.

Riêng mỏ Air Laya trữ lượng than còn đến hàng tỉ tấn và việc khai thác vẫn tiếp tục trong hơn 10 năm nữa. Nhưng hãng PT Bukit Asam đã có kế hoạch biến hố sâu hàng trăm mét tại đây thành hồ nhân tạo với lời cam kết “sẽ không để lại những vùng đất chết”.

Những dự án môi trường của PT Bukit Asam thật sự là điểm sáng trong bối cảnh còn khá“đen tối” của ngành khai thác than Indonesia. Theo Kompas, vẫn còn rất nhiều công ty của nước này làm ngơ các vấn đề môi trường, để lại hàng loạt “vết thương hở miệng” trên những vùng mỏ cũ. Mọi việc còn trở nên khó kiểm soát hơn khi chính quyền các tỉnh địa phương hiện đã được quyền cấp phép khai khoáng cho các công ty tư nhân.
Theo Thanh Niên

Phát hiện loài cây mới ở Sapa



Một nhà khoa học Việt Nam cùng hai đồng nghiệp Trung Quốc vừa phát hiện cây Mỡ lông dày, một loài thực vật mà giới khoa học chưa từng biết, tại huyện Sapa, tỉnh Lào Cai.

Ông Vũ Quang Nam, nhà thực vật học của Đại học Lâm nghiệp, cho biết, ông cùng hai nhà khoa học Trung Quốc tìm thấy cây Mỡ lông dày (Manglietia crassifolia) trong Vườn quốc gia Hoàng Liên. Khu vực mà nhóm chuyên gia tìm thấy cây Mỡ lông dày thuộc địa bàn huyện Sapa, tỉnh Lào Cai.

Cây Mỡ lông dày trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên. (Ảnh: Vũ Quang Nam)
Cây Mỡ lông dày trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên. (Ảnh: Vũ Quang Nam)

Mỡ lông dày là loại cây có chiều cao từ 8 tới 15 m, đường kính thân khoảng 20 cm. Hoa của chúng có kích thước lớn, màu trắng và tỏa ra mùi thơm quyến rũ nên rất có tiềm năng trong ngành lâm nghiệp đô thị. Phát hiện của ba chuyên gia đã được đăng trên BioOne, một tạp chí khoa học chuyên ngành khá nổi tiếng tại Mỹ.







Trước đó vào năm ngoái, nhà thực vật học Vũ Quang Nam cùng một đồng nghiệp người Trung Quốc cũng phát hiện một loài cây mới có tên Mỡ Sapa (Manglietia sapaensis) trong Vườn quốc gia Hoàng Liên. Phát hiện này được công bố trên tạp chí sinh học Nordic tại Thụy Điển.

Được thành lập từ năm 2002, Vườn Quốc gia Hoàng Liên nằm ở độ cao từ 1.000 tới 3.000 m so với mực nước biển trên dãy núi Hoàng Liên Sơn, thuộc địa bàn các huyện Than Uyên, Phong Thổ của tỉnh Lai Châu và huyện Sapa của tỉnh Lào Cai. Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới bầu chọn đây là một trong những "trung tâm đa dạng của các loài thực vật". Vườn cũng được Quỹ Môi trường Toàn cầu xếp loại A, cấp cao nhất về giá trị sinh học của Việt Nam.
Theo Vnexpress

Giới khoa học cảnh báo về mặt trái của cây biến đổi gene


Trong khi Bộ Nông nghiệp cho rằng, cây trồng biến đổi gene giúp tăng năng suất, thì nhiều nhà khoa học lại cảnh báo về an toàn thực phẩm và nguy cơ lệ thuộc của nền nông nghiệp Việt Nam vào các tập đoàn xuyên quốc gia.

Sáng 5/10, Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam tổ chức cuộc tọa đàm về phát triển cây trồng biến đổi gene ở Việt Nam với sự tham dự của hàng chục nhà khoa học, chuyên gia.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Bùi Bá Bổng, việc sử dụng giống cây trồng biến đổi gene (Genetically Modified Crop - GMC) trên thế giới hiện nay có hai ý kiến trái ngược nhau. Bên ủng hộ khẳng đây là tiến bộ của khoa học hiện đại, giúp tăng sản lượng nông nghiệp mà phương pháp truyền thống không đáp ứng được. Luồng ý kiến ngược lại cho rằng loại cây này có nguy cơ đem lại những hậu quả tiêu cực đối với sức khỏe người, động vật và đa dạng sinh học.

Giống ngô biến đổi gen đang được trồng khảo nghiệm trên diện rộng tại Vĩnh Phúc. (Ảnh: N.H)
Giống ngô biến đổi gen đang được trồng khảo nghiệm trên diện rộng tại Vĩnh Phúc. (Ảnh: N.H)

Thứ trưởng Bổng cho rằng, với một tiến bộ khoa học và công nghệ phức tạp như GMC thì chọn lựa tiếp thu một cách dễ dãi hay dứt khoát từ chối đều chưa phải là cách tiếp cận hay.

Hiện, Việt Nam mới chỉ cho phép khảo nghiệm 3 loại cây trồng GMC là ngô, đậu tương, bông vải. Đây cũng là 3 loại cây mà chúng ta đang phải nhập khẩu với số lượng lớn. Riêng giống ngô biến đổi gene ở Việt Nam đã hoàn tất phần khảo nghiệm đánh giá rủi ro đối với đa dạng sinh học và môi trường. Sau bước này còn các bước tiếp theo như chứng nhận an toàn sinh học, chứng nhận đủ điều kiện làm thực phẩm. Trong năm 2012, ngô biến đổi gene có thể được đưa vào sản xuất đại trà.

Đại diện cho Viện Di truyền nông nghiệp - đơn vị chủ trì khảo nghiệm đánh giá rủi ro với cây biến đổi gene, tiến sĩ - Viện trưởng Lê Huy Hàm công bố, đến năm 2010, loại cây này trên thực tế đã trồng 148 triệu ha, chưa thấy nước nào trồng rồi từ bỏ. Những nước ở châu Âu chưa chấp nhận biến đổi gene là do đang đối diện với khủng hoảng thừa hơn là thiếu, họ không lo nghĩ nhiều đến an ninh lương thực, hay đất đai như các nước đang phát triển. Ông cũng khẳng định, cho đến nay chưa ghi nhận trường hợp nào gây ảnh hưởng cho môi trường sức khỏe.

Ông Hàm phân tích, người dân thường một vụ phun tới 14 lần thuốc trừ sâu, như thế họ sẽ bị ảnh hưởng sức khỏe từ loại thuốc độc hại này, đồng thời môi trường cũng bị ảnh hưởng, như vậy là tận diệt môi trường. Nếu dùng loại cây trồng biến đổi gene kháng sâu, người trồng không phải phun thuốc trừ sâu, mà bản thân loại này sẽ tiêu diệt sâu đục thân, giảm chi phí, giảm độc hại đến môi trường, đảm bảo sức khỏe tốt hơn người trồng, giảm phát thải dư lượng thuốc trừ sâu vào môi trường, đảm bảo đa dạng sinh học.

Hầu hết các ý kiến trong buổi tọa đàm đều cho rằng VN nên thận trọng và không nên sớm áp dụng đại trà công nghệ biến đổi gene. (Ảnh: N.H)
Hầu hết các ý kiến trong buổi tọa đàm đều cho rằng VN nên thận trọng
và không nên sớm áp dụng đại trà công nghệ biến đổi gene. (Ảnh: N.H)


Theo ông Hàm, về nguyên lý, công nghệ biến đổi gene không mới, có từ hàng triệu năm nay. Bản thân cây trồng vật nuôi đã là khía cạnh của biến đổi gene, nhưng nó là sản phẩm của hàng triệu năm, con người chỉ học và đẩy nhanh để đáp ứng nhu cầu. "Cây trồng biến đổi gene là kỹ thuật của tương lai, trước sau chấp nhận rộng rãi. Kết quả khảo nghiệm vừa qua ở các tỉnh như Vĩnh Phúc, Bà Rịa - Vũng Tàu, người dân rất vui mừng khi năng suất từ cây trồng biến đổi gene tăng mạnh", ông Hàm nhấn mạnh.

Ủng hộ cây trồng biến đổi gene, giáo sư Nguyễn Lân Dũng, Phó chủ tịch Hội vi sinh vật cho rằng nên phát triển công nghệ này. Theo ông, dân số ngày càng tăng, để đảm bảo an ninh lương thực, muốn tăng năng suất cây trồng cần tìm cách thay đổi công nghệ. "Dân số thế giới dự kiến vượt quá 12 tỷ người sau 50 năm tới, làm thế nào để cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho nhân loại là một vấn đề rất lớn. Không có lý do gì để chúng ta chậm trễ trong việc nhập khẩu các giống cây trồng biến đổi gene đã được thực hiện nhiều năm trên thế giới", ông Dũng nhấn mạnh.

Phản bác lại, giáo sư - viện sĩ Trần Đình Long, Chủ tịch hội giống cây trồng lại cho rằng sinh vật biến đổi gene tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng lâu dài tới sức khỏe cộng đồng như khả năng gây dị ứng, làm nhờn kháng sinh, có thể tạo ra độc tố và gây độc lâu dài cho cơ thể. Gene kháng sinh có thể được chuyển vào các cơ thể vi sinh vật trong ruột của người và động vật ăn thịt thành phần biến đối gene. Điều này sẽ dẫn tới việc tạo ra vi sinh vật có khả năng kháng thuốc.

Về đa dạng sinh học, theo ông Long, cây biến đổi gene có thể phát tán sang họ hàng hoang dã của chúng và các loài cây trồng khác, sang côn trùng gây hại, vi sinh vật, có nguy cơ làm tăng khả năng đề kháng của chúng đối với đặc tính chống chịu sâu bệnh, thuốc diệt cỏ và làm tăng khả năng gây độc của cây trồng biến đổi gene đối với sinh vật có ích. Từ đó làm ảnh hưởng tới chuỗi thức ăn tự nhiên, ảnh hưởng tới đa dạng sinh học.

Ngoài ra, cây biến đổi gene còn mang cái gene kháng thuốc trừ cỏ thụ phấn với các cây cùng loài hay có họ hàng gần gũi, làm lây gene kháng thuốc diệt cỏ trong quần thể thực vật. Việc trồng cây biến đổi gene mang tính chọn lọc như kháng sâu, bệnh, kháng thuốc trừ cỏ phát triển tràn lan sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái và làm giảm đa dạng sinh học của loài cây được chuyển gene.

"Việt Nam chưa nên phát triển cây trồng biến đổi gene trên diện rộng. Chúng ta không phản đối cây trồng biến đổi gene, nhưng tiếp cận với chúng thế nào thì cần phải thảo luận", ông Long nói. Ông Long kiến nghị, trong 10 năm tới không nên trồng cây biến đổi gene ở nước ta.

Cùng chung nhận định, bà Lê Thị Phi Vân (Viện chính sách, chiến lược phát triển Nông nghiệp nông thôn) khẳng định, "GMC không tạo sự khác biệt đáng kể về năng suất, thực tế chứng minh, năng suất GMC sau một thời gian còn thấp hơn cây trồng thông thường và đòi hỏi lượng tương đương các hóa chất diệt cỏ độc hại".

Bà Vân cũng nêu hàng loạt dẫn chứng chứng minh, GMC không hề giúp tiết kiệm chi phí, lượng thuốc trừ sâu có giảm trong 2-3 năm đầu áp dụng GMC, nhưng sau đó tăng dần. GMC còn làm cho sâu bệnh trở nên kháng thuốc. GMC còn tiềm ẩn ảnh hưởng bất lợi tới sức khỏe con người và vật nuôi. Những nghiên cứu gần đây chứng minh rằng công nghệ gene vốn đã không an toàn, có nguy cơ nghiêm trọng với sức khỏe về mặt độc tố, dị ứng và chức năng miễn dịch, sức khỏe sinh sản và sức khỏe sinh lý, chuyển hóa, gene...

Hàng loạt ý kiến của các nhà khoa học tại hội thảo cũng khẳng định, đối với công nghệ biến đổi gene, Việt Nam không thể "đi tắt đón đầu" bởi lợi thì đếm được nhưng hại thì nhiều vô cùng.

Ông Trần Đắc Lợi nêu hàng loạt dẫn chứng về mối đe dọa từ cây biến đổi gene. (Ảnh: N.H)
Ông Trần Đắc Lợi nêu hàng loạt dẫn chứng về mối đe dọa từ cây biến đổi gene. (Ảnh: N.H)

Ngoài ra, theo bà Vân, điều nguy hiểm là phát triển cây biến đổi gene chỉ càng làm cho nông dân phụ thuộc hơn vào các công ty giống, trong khi các công ty giống sẽ có khả năng kiểm soát cả về kinh tế và chính trị mục tiêu thu hút đầu tư vào khâu giống cây trồng.

Đồng tình với ý kiến này, ông Trần Đắc Lợi, (Phó chủ tịch Quỹ Hòa bình và Phát triển Việt Nam) cho rằng cần nghiên cứu kỹ về sinh vật biến đổi gene (GMO). Theo ông Lợi, lực lượng thúc đẩy biến đổi gene chủ yếu là tập đoàn xuyên quốc gia.

Trước báo cáo của Bộ Nông nghiệp cho rằng nói rằng không có bằng chứng về việc tự tử của nông dân Ấn Độ liên quan tới cây biến đổi gene, ông Lợi thẳng thắn: "Người nông dân này tự tử do không trả đủ tiền cho khoản vay nặng lãi, vì họ hoàn toàn phụ thuộc vào người cung cấp giống biến đổi gene. Khi phổ biến, nhà sản xuất tăng giá lên, và tất nhiên nông dân phá sản hàng loạt".

Theo ông Lợi, trên thế giới mới có 29 quốc gia làm, thậm chí tại các nước này đang diễn ra đấu tranh quyết liệt dưới nhiều hình thức khác nhau để không phát triển GMO như Peru quyết tâm đình chỉ không dùng cây trồng biến đổi gene trong 10 năm. Thụy Sĩ, Australia cũng không tiếp tục phát triển GMC nữa. Người dân các nước ngày càng phản đối mạnh việc đưa GMC vào nước họ trên các diễn đàn như một sự kiểm soát xâm lăng tấn công vào chủ quyền an ninh lương thực quốc gia.

Ông Lợi dẫn chứng báo cáo nghiên cứu toàn diện mới đây về nông nghiệp thế giới do Liên Hiệp quốc bảo trợ với sự tham gia của nhiều nước, nhiều tổ chức, đã kết luận: "Sinh vật biến đổi gene không đóng góp được gì cho an ninh lương thực, xóa nghèo, biến đổi sinh học, thêm vào đó sự du nhập biến đổi gene còn làm suy thoái về giống".

"Xu thế tiêu dùng của thế giới hiện nay rõ ràng là thực phẩm an toàn, ở Mỹ đang tẩy chay GMC, Liên minh châu Âu cấm bán mật ong liên quan đến nhiễm sản phẩm của GMC, Mỹ khi gạo lan tỏa lúa của Mỹ thiệt hàng trăm triệu USD. Đây mới là xu thế của thế giới", ông Lợi nói.

Đại biểu này kiến nghị, cần nghiên cứu kỹ trước khi đưa cây biến đổi gene vào đời sống. Trong đó, quan trọng là cần tập trung nghiên cứu đảm bảo tính độc lập khách quan sau đó mới xem nên áp dụng hay không.
Theo Vnexpress

Ngô biến đổi gene khiến người Trung Quốc phân vân



Dư luận Trung Quốc nghi một giống ngô được trồng phổ biến tại nước này bị biến đổi gene và gây nên nhiều hiện tượng bất thường ở động vật.


Asia Time cho biết, trong lúc nhu cầu đối với ngô tại Trung Quốc tăng vọt, sự chú ý của dư luận tập trung vào giống ngô XY335 (hay còn gọi là Xianyu).

Ngô biến đổi gene khiến người Trung Quốc phân vân

Chỉ trong vòng 5 năm, XY335 đã trở thành giống ngô được trồng phổ biến nhất tại miền bắc Trung Quốc và phổ biến thứ hai trên toàn quốc. Tuy nhiên, giờ đây dư luận bắt đầu nghi ngờ rằng “bố mẹ” của XY335 là giống ngô biến đổi gene. Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, cây biến đổi gene chưa được phép trồng đại trà tại Trung Quốc.

Vào năm 2010, báo International Economic Herald đăng một bài về việc người dân phát hiện nhiều hiện tượng bất thường ở những động vật ăn ngô XY335 tại nhiều khu vực, như chuột vô sinh, lợn bị sảy thai. Dư luận cho rằng XY335, do bị biến đổi gene, đã gây đột biến gene và giảm khả năng sinh sản của những con vật ăn ngô.

Cây biến đổi gene, cụ thể là ngô, đang là chủ đề tranh luận ở Trung Quốc. Với sản lượng cao, cây biến gene có thể giúp nước này khỏi tốn tiền nhập khẩu. Song mặt khác, các tác động chưa được nghiên cứu hết của cây biến gene khiến các nhà hoạt động xã hội lo ngại về an toàn thực phẩm.

Gạo và lúa mì là hai loại lương thực chủ đạo tại Trung Quốc. Nhưng do mức sống của người dân ngày càng tăng, nhu cầu tiêu thụ thịt cũng lớn dần theo thời gian. Vì thế Trung Quốc cần một lượng ngô lớn để nuôi gia cầm và gia súc.

Tình trạng thiếu lương thực của Trung Quốc trong thập niên 70 là động lực quan trọng để Bắc Kinh tiến hành các cải cách nông nghiệp và kinh tế. Nhưng ngày nay, khi kinh tế bùng nổ, Trung Quốc phải quyết định mức độ phụ thuộc vào thị trường quốc tế để đảm bảo nhu cầu lương thực.

Thúc đẩy việc trồng hạt biến đổi gene là một thương vụ lớn đối với những công ty cung cấp hạt giống, công ty sản xuất thuốc diệt cỏ, các tổ chức nghiên cứu và cơ quan chính phủ. Nhưng liệu nó mang đến lợi ích cho nông dân hay không thì vẫn là một câu hỏi chưa có lời giải đáp rõ ràng.
Theo Vnexpress

Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2011

Phẫu diện đất VN 49

Ký hiệu phẫu diện: VN 49
Địa điểm: Vườn Nhà Chùa Diệu Ân, Vùng Đồng Xoài, Thôn Dũ Dĩ, Xã Mỹ Sơn, Huyện Ninh Sơn, Tỉnh Ninh Thuận
Tọa độ: Vĩ độ:  11° 41’50 ” B   Kinh độ: 108° 50’ 00” Đ
Độ  cao: Tương đối: 50 m (ASL)    Tuyệt đối:  
Độ dốc: 3° - 8°     Hướng dốc: Tây Bắc - Đông Nam
Hiện trạng thảm thực vật: Ngô phát triển kém
Chế độ canh tác: Chuyên mầu
Tên đất:    
- Việt Nam: Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính
- FAO-UNESCO: Rhodic Lixisols             
- USDA (Soil Taxonomy) Haplargids   
Ngày lấy mẫu: 25 - 11 - 1999
Người điều tra: Trương Xuân Cường, Nguyễn Văn Tý     



Vị trí trên bản đồ




HÌNH THÁI PHẪU DIỆN

Ký hiệu
tầng đất
Độ sâu
tầng đất, cm

Mô tả phẫu diện
Ap
0 - 10
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/4; Khô: 2,5YR 3/6); sét pha cát; khô; tơi; xốp; khô bở; nhiều rễ cỏ; trên mặt có lớp cát mỏng và đá vụn ; có hiện tượng rửa trôi mạnh trên bề mặt; chuyển lớp rõ.
AB
10 - 35
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/4; Khô: 2,5YR 3/4); sét pha cát; hơi ẩm; cứng chặt; có nhiều ổ cát đá mịn mỏng trên bề mặt; có nhiều hang kiến; còn rễ cây nhỏ; các vệt nâu đen nhỏ xác thực vật; chuyển lớp từ từ.
Bs
35 - 80
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/5; Khô: 10R 4/8); sét pha cát; ẩm; hơi chặt; khi bóp thì tơi bở; có lẫn những hạt đá vụn F>1 ly có mầu vàng đến trắng; nhiều hang kến nhỏ; chuyển lớp từ từ.
BC1
80 - 100
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/5; Khô: 10R 4/8); sét pha cát; ẩm; chặt; nhiều hạt đá vụn thô hơn tầng trên  có mầu đen vàng xám đến trắng; ít hang kiến nhỏ; chuyển lớp rõ.
BC2
100 - 125
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/5; Khô: 2,5YR 4/6); thịt nhẹ pha sét và cát; ẩm; lẫn khoảng 20-30% đá vụn dạng sỏi cơm có mầu nâu vàng đen đến trắng; chuyển lớp rõ.
C
125 - 160
Nâu đỏ sẫm (Ẩm: 2,5YR 3/5; Khô: 2,5YR 4/6); thịt nhẹ pha sét cát; ẩm; có nhiều đá vụn bán phong hóa mầu đen xám vàng đến trắng; có chỗ kết thành những đám dầy đặc.

Phẫu diện đất VN 48

Ký hiệu phẫu diện: VN 48
 Địa điểm: Ruộng ông Kiều Dú, Vùng Đồng Xoài, Thôn ThànhTín,
 Xã Phước Hai, Huyện Ninh Phước, Tỉnh Ninh Thuận
Tọa độ: Vĩ độ: 11° 33’ 00” B    Kinh độ: 108°57’30” Đ
Độ  cao: Tương đối: 35 m (ASL)     Tuyệt đối:  
Độ dốc: 0° - 3°    Hướng dốc:  Đông - Bắc
Hiện trạng thảm thực vật: Cỏ mọc tốt
Chế độ canh tác: Bỏ hóa
Tên đất:     
- Việt Nam: Đất mặn kiềm
- FAO-UNESCO: Sodic Solonchaks  
- USDA (Soil Taxonomy)  Aqxicambids
Ngày lấy mẫu: 24 - 12 - 1999
Người điều tra: Trương Xuân Cường, Nguyễn Văn Tý     



Vị trí trên bản đồ




HÌNH THÁI PHẪU DIỆN

Ký hiệu
tầng đất
Độ sâu
tầng đất, cm

Mô tả phẫu diện
Ap
0 - 7
Xám nâu (Ẩm: 7,5Y 4/1; Khô: 7,5 Y6/2); thịt pha sét; ướt; dính; dẻo; hơi chặt; phía trên mặt có lớp bùn nhão nhoét (Ẩm: 7,5Y 2/1); có nhiều rễ cỏ; nhiều vệt mầu đen đã phân huỷ; chuyển lớp từ từ.
AB
7 - 20
Nâu vàng xám (Ẩm: 5Y 5/2; Khô: 7,5Y 7/2); thịt nhẹ pha sét cát; dẻo; dính; chặt; hơi cứng; có nhiều ổ cát ổ sét mầu nâu sẫm; có nhiều vệt xám xanh; ít rễ cỏ; chuyển lớp rõ.
Bs1
20 - 50
Nâu vàng hơi xám (Ẩm: 10YR 5/6; Khô: 2,5Y 7/4); cát pha đến thịt nhẹ; hơi chặt; tơi bở khi ướt; có ít vệt xám sẫm và các đốm nâu đen; ít rễ cỏ nhỏ; chuyển lớp từ từ.
Bs2
50 - 80
Nâu vàng (Ẩm: 10YR 5/6; Khô: 2,5Y 7/4); cát; ẩm; rẽ tơi bởi; phía trên có nhiều vệt , ổ mầu nâu sẫm; phía dưới có vệt nâu của rỉ sắt; nhiều ánh mi ca; có ít ổ cát mầu xám sáng; chuyển lớp rõ.
Bw1
80 - 120
Nâu vàng (Ẩm: 10YR 5/8: Khô: 10YR 7/4); thịt nhẹ pha cát; ẩm; hơi chặt; nhiều ổ vệt mầu đen nâu sẫm; các vệt sét mầu xám; phía trên còn ánh cát mịn; chuyển lớp đột ngột.
Bw2
120 - 160
Nâu vàng xỉn (Ẩm: 10YR 4/3; Khô: 2,5Y 7/3); thịt nặng đến trung bình; ướt; chặt hơi cứng; nhiều vệt mầu nâu đỏ sẫm; có ít hang hốc động vật.