Thứ Tư, 28 tháng 12, 2011
Đất phèn và việc bón cải tạo
Đất phèn, đất chua phèn hay đất chua là các thuật ngữ khác nhau để chỉ loại đất có độ pH thấp, thường là từ 5,5 trở xuống. Có khi pH chỉ còn 3 hoặc 2. Thủ phạm chủ yếu trong đất phèn là nhôm (Al) và Sắt (Fe).
Tùy theo điều kiện hình thành mà có nơi Fe chiếm ưu thế có nơi Al chiếm ưu thế, có nơi 2 thành phần này cùng chung sống với nhau. Khi quan sát màu nước trong ruộng, biểu hiện rõ là ở các gốc ruộng hoặc quanh bờ, mặt nước có váng màu đỏ thì có thể hiểu ngay ruộng đó do phèn sắt gây ra là chủ yếu, có nơi gọi là phèn nóng. Còn ở những ruộng mặt nước trong xanh, đất quanh bờ có màu xám ít thấy cỏ mọc hoặc chỉ thấy có cỏ năn mọc lác đác từng chòm thì ruộng đó nghiêng về phèn nhôm, có nơi gọi là phèn lạnh. Mức độ phèn nhiều hay ít tùy thuộc vào độ nông, sâu của tầng sinh phèn. Nếu tầng sinh phèn ở sâu, ví dụ, nằm dưới mắt đất 1-2m hoặc sâu hơn thì tỷ lệ Fe, Al ở trên bề mặt ruộng ít hơn. Còn những ruộng có tầng sinh phèn ở nông, ví dụ chỉ cách lớp đất mặt dưới 1m (50-60cm chẳng hạn) thì người ta thường nói đó là đất phèn hoạt động, lượng Fe, Al trong ruộng sẽ nhiều hơn và biện pháp cải tạo sẽ khó khăn hơn. Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), diện tích đất phèn các loại có đến khoảng 1,5 triệu ha, phân bố chủ yếu ở Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên, Tây Sông Hậu và lác đác ở một số vùng khác. Ở Miền Bắc đất phèn chủ yếu tập trung ở vùng Kiến An - Hải Phòng. Vì vậy kỹ thuật bón phân cho đất phèn trong bài này chủ yếu áp dụng cho vùng ĐBSCL, đồng thời để tham khảo cho một số vùng khác. Có nhiều biện pháp cải tạo đất phèn để trồng cây. Trên đất ngập nước thì chủ yếu cải tạo để trồng lúa. Trong các biện pháp cải tạo đất phèn thì biện pháp sử dụng nước ngọt để rửa phèn là biện pháp có hiệu quả hơn cả. Ở các vùng đất cao thì bón vôi và bón phân lân nung chảy là biện pháp chiếm ưu thế. Đất phèn ở ĐBSCL nhiều vùng trước đây chỉ bỏ hoang hóa. Nhưng nhờ quanh năm có từ 3-6 tháng ngập lụt, nên việc sử dụng nước ngọt để cải tạo được coi là biện pháp chủ lực. Nhờ vậy các vùng ĐBSCL, Tứ giác Long Xuyên và Tây Sông Hậu đã trở thành vựa lúa góp phần cho sản lượng lúa của ĐBSCL tăng lên nhanh chóng và rất ổn định.
Đất phèn sau khi vỡ hoang, cho ngập nước một vài vụ đã có thể tiến hành khai thác. Bên cạnh chọn giống lúa thích hợp cho vùng đất phèn thì qui trình và kỹ thuật bón phân, kỹ thuật canh tác là biện pháp rất quan trọng .Về quy trình bón phân cho lúa trên đất phèn cần chú ý phân biệt ra hai loại đất phèn nặng và đất phèn trung bình (hay đất phèn đã được cải tạo), gieo cấy vụ Đông xuân hay vụ Hè thu. Dù vụ nào, đất phèn thuộc loại nặng hay trung bình thì phân lân (P) vẫn được coi là thành phần quan trọng nhất. Khi bón lân, một phần lân dễ tiêu được cung cấp ngay cho cây, một phần lân khác bị kết hợp với Fe, Al để thành phốt phát - Fe, Al khó tan. Tuy hiện tượng này làm lượng lân sử dụng trên đất phèn phải tăng lên vì một phần lân đã kết hợp với một số lượng khá lớn Fe, Al thành dạng khó di động nên sẽ không trực tiếp làm tác hại lên bộ rễ lúa, do đó lúa tránh được hiện tượng ngộ độc của phèn. Do vậy, đối với đất phèn nặng thì lượng lân (P2O5) phải được bón từ 60-80 kg/ha, còn trên đất phèn đã trồng lúa nhiều năm hay đất phèn trung bình thì lượng lân có thể giảm xuống đến khoảng ½ lượng phân bón trên đất phèn nặng. Ví dụ, vào vụ Đông xuân công thức bón phân cho lúa trên đất phèn năng được khuyến cáo giao động từ 70-80 kgN+ 60-80 kgP2O5 + 30-50 kgK2O. Còn với vụ Hè thu thì lượng phân được khuyến cáo là 60-70 kgN + 70-90 kgP2O5 + 30-40 kgK2O. Trên đất phèn trung bình hay phèn nhẹ, vụ ĐX khuyến cáo bón 80-90 kgN+ 30-50 kgP2O5 + 30-40 kgK2O. Vụ HT khuyến cáo bón 60-70 kgN + 40-50 kgP2O5 + 30-40 kgK2O. Lân được khuyến cáo bón lót khoảng ½ lượng cần bón dưới dạng hoặc phân lân nung chảy hoặc phân lân hữu cơ hiệu Đầu Trâu. Ở ĐBSCL do lân nung chảy hiếm nên từ lâu bà con nông dân đã quen sử dụng phân lân hữu cơ Đầu Trâu của Bình Điền. Trên đất phèn nặng bón lót 350-400 kg/ha, còn trên đất phèn nhẹ bón 200-300 kg/ha. Sau khi sạ lúa được 7-10 ngày sẽ tiến hành bón thúc đợt 1 bằng phân Đầu Trâu chuyên dùng cho lúa như Đầu Trâu 997 hay Đầu Trâu 97 hoặc Đầu Trâu TE-01. Đến khoảng 15-20 ngày sau sạ bón thúc đợt 2 bằng Đầu Trâu 998 hoặc Đầu Trâu TE-01. Khi lúa được 40-45 ngày bón thúc đợt 3 bằng phân Đầu Trâu 999 hoặc Đầu Trâu TE-02 theo khuyến cáo có ghi trên bao bì. Các loại phân nói trên là các loại phân chuyên dùng cho lúa. Những nơi bà con đã quen dùng phân 997, 998, 999 thì nên tiếp tục dùng. Còn những nơi có phân Đầu Trâu TE-01 và TE-02 thì dùng 2 loại này sẽ rất tốt. Hai lần bón thúc đầu dùng loại phân Đầu Trâu TE-01, lần bón thúc cuối dùng loại Đầu Trâu TE-02 sẽ đơn giản hơn. Số lượng phân ĐT TE-01 và TE-02 bón từng thời kỳ được giới thiệu tóm tắt dưới đây (không kể lượng lân hữu cơ ĐT được bón lót với lượng 200-300 kg/ha).
Nguồn: http://agriviet.com
Cải tạo đất nông nghiệp bạc màu
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu và SXNN bền vững (Trường ĐHNN Hà Nội) cho thấy: do truyền thống canh tác độc canh và kỹ thuật lạc hậu trong thời gian dài của nông dân vùng ĐBSH nên nhiều diện tích ở đây đã bị thoái hoá nghiêm trọng biến thành đất bạc màu, ảnh hưởng lớn đến SXNN....
Những loại đất xấu, đất bạc màu, đất thoái hoá thường mang những nhược điểm gây hại cho cây trồng như đất bị mất tầng canh tác, nghèo kiệt dinh dưỡng, đặc biệt là nghèo chất hữu cơ, bị khô hạn, chai cứng hoặc bị ngập úng nước, bị chua hoá, mặn hoá... do vậy mà hiệu quả SX thu được không cao. Để có thể tiếp tục canh tác được trên vùng đất bạc màu đưa lại hiệu quả kinh tế bà con cần phải cải tạo đất bạc màu bằng các biện pháp tổng hợp như luân canh cây trồng, thâm canh hợp lý, phân bón, thuỷ lợi... sau đây:
- Thuỷ lợi là biện pháp kỹ thuật quan trọng hàng đầu trong việc cải tạo lại đất bạc màu. Việc tưới tiêu nước chủ động, khoa học bằng một hệ thống kênh mương hoàn chỉnh nhằm cải thiện độ phì đất bạc màu, tăng độ ẩm, cải thiện được các đặc tính lý hoá trong đất, làm cho đất tơi xốp hơn, khả năng kết dính tốt hơn, giữ nước tốt hơn, giúp hệ vi sinh vật trong đất hoạt động tốt hơn tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt hơn.
- Biện pháp hữu cơ bao gồm chuyển đổi cơ cấu cây trồng hợp lý và tăng cường bón lót bằng các nguồn phân hữu cơ như phân chuồng, phân xanh, phân bắc... để cải tạo và tăng độ phì cho đất. Tuy nhiên khi sử dụng, phân hữu cơ phải được ủ hoai mục để không gây ô nhiễm môi trường và không gây hại cho cây trồng. Ngoài ra có thể sử dụng các loại chất thải nông nghiệp như rơm, rạ, mùn trấu, rác sinh hoạt, than bùn... để SX phân hữu cơ vi sinh dùng làm chất cải tạo đất rất tốt.
- Đa dạng hoá cây trồng nhằm đạt hiệu quả thu nhập cao trên cùng một đơn vị diện tích canh tác đồng thời góp phần cải tạo đất bằng cách trả lại độ màu mỡ lâu dài cho đất bạc màu. Một số công thức trồng trọt có thể áp dụng trên đất bạc màu như:
+ Công thức 2 vụ: gồm 1 vụ lúa và 1 vụ rau màu như ngô khoai, lạc, đậu đỗ xen với rau.
+ Công thức 3 vụ: gồm 1 vụ lúa, 1 vụ rau màu hè thu và 1 vụ rau đông xuân.
Trên những vùng đất bạc màu bà con nên trồng xen hoặc luân canh cây trồng chính với các loại cây họ đậu như lạc, đậu tương, đậu xanh, đậu trạch... vì chúng có khả năng cố định đạm, giúp cải tạo độ phì nhiêu của đất rất tốt.
- Che phủ đất cũng là một biện pháp rất thích hợp đối với những vùng đất bạc màu giúp hạn chế bốc hơi nước, giữ ẩm cho đất, chống gió rét, hạn chế cỏ dại và giữ ấm cho cây trồng, giúp phân phối đều nước không gây úng thối cho cây trồng, giúp hệ vi sinh vật trong đất hoạt động tốt sẽ làm cho đất tơi xốp, thoáng khí hơn, giúp cho hệ rễ cây trồng phát triển tốt.
- Biện pháp làm đất: Đặc điểm của đất bạc màu thường là khô, cứng do đó hạn chế xới xáo để tránh mất nước do bốc hơi, nhất là vào thời kỳ khô hạn. Chỉ nên kết hợp xới xáo khi làm cỏ, bón phân, tưới nước. Nếu trồng lúa trên đất bạc màu thì không nên xếp ải dễ làm đất mất thêm nước, hệ vi sinh vật còn sót lại trong đất sẽ bị chết, đất càng trở nên chai cứng hơn; trồng màu thì lên luống cao kết hợp tưới nước theo rãnh là biện pháp tối ưu nhất.
Năm 2012, Chi ngân sách cho nông nghiệp chiếm 40%
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định, trong năm 2012, dự toán NSNN dành cho nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ là trên 308 nghìn tỉ đồng, chiếm 40,9% tổng vốn đầu tư toàn xã hội...
Chủ tịch Quốc hội bổ sung, con số trên còn chưa bao gồm nhiều nguồn tín dụng, và điều đó chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt của hệ thống chính trị cũng như toàn xã hội đối với ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. “Chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân; giải pháp đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn; lấy nông dân làm căn bản, nông thôn làm cơ sở đang là vấn đề quan trọng hàng đầu hiện nay. Đó là mấu chốt của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa”.
Tham gia trả lời chất vấn của các ĐBQH, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ cho biết, mức đầu tư của Chính phủ cho ngành nông nghiệp luôn rất rất lớn, hàng năm tăng trung bình 30% so với năm trước. Dự toán năm 2012, NSNN dành cho nông nghiệp là 308 nghìn tỉ đồng, chiếm tới 40,9% NSNN. Nền nông nghiệp vững mạnh, niềm tin của nông dân và nông thôn ổn định chính là cơ sở để nền kinh tế vĩ mô có thể sớm lấy lại được đà phục hồi.
![]() |
| Nông nghiệp luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ xã hội. (Ảnh: Bảo Sơn). |
“Trong năm tới, Bộ Tài chính sẽ bố trí 1.200 tỉ đồng ngân sách cho bảo hiểm nông nghiệp. Nếu sử dụng hiệu quả thì sẽ có những bước phát triển rất tốt. 3 đối tượng được ưu tiên là cây lúa và cây hoa màu (bao gồm bờ, đê, giống)…; gia súc (trâu bò, lợn, gia cầm…); thủy sản (cá tra, cá sa, tôm sú, tôm chân trắng…). NSNN hỗ trợ 100% cho hộ nghèo, 80% hộ cận nghèo, các hộ khác là 60%. Doanh nghiệp tham gia bảo hiểm được hỗ trợ 20%. NSNN hỗ trợ 100% cho nguồn bảo hiểm này”, Bộ trưởng Huệ cho biết.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng phân tích, ngành nông nghiệp phải bảo vệ bằng được những mặt hàng như muối, đường ăn, trứng gia cầm và thuốc lá nguyên liệu. Các mặt hàng khác được nhập khẩu không hạn chế, nhưng phải kiểm soát nghiêm ngặt về kỹ thuật và chất lượng. Với rau quả nông sản, năm 2010 chúng ta xuất khẩu đạt 76 triệu USD, nhập khẩu 60 triệu USD. Bởi vậy, biện pháp duy nhất để duy trì thành tích trên là chúng ta phải xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật tiệm cận thế giới, thì rau quả của chúng ta mới có cơ hội sống sót. Tiêu thụ sản phẩm và xây dựng hệ thống phân phối đặc biệt với 11 mặt hàng thiết yếu như gạo, muối, phân bón, thức ăn gia súc…
“Tuy nhiên, mức độ đầu tư cho hệ thống phân phối khác nhau nên hiệu quả cũng khác nhau. Chẳng hạn gạo thực hiện rất tốt, muối cũng có những đảm bảo nhất định cho diêm dân. Tuy nhiên, riêng mặt hàng thức ăn gia súc, phân bón thì còn có một số hạn chế. Thời gian tới cần phải kêu gọi nhiều thành phần tham gia vào hệ thống phân phối để đảm bảo lợi ích cho người nông dân. Vấn đề yếu nhất trong phân phối và tiêu thụ là lĩnh vực rau quả, do chưa có biện pháp căn cơ. Thời gian tới sẽ tập trung vào lĩnh vực này. Xuất khẩu nông sản sẽ tăng cường việc ký kết các hiệp định thương mại tự do, đẩy mạnh xúc tiến thương mại”, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cảnh báo.
Nguồn: (Petrotimes)
Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2011
Ngành nông nghiệp "tất niên" sớm!
* Tổng kết năm 2011, triển khai kế hoạch 2012
| Bộ trưởng Cao Đức Phát: “Trong điều kiện khó khăn, nông nghiệp vẫn đạt nhiều thành tựu” |
Sản lượng lúa đạt kỷ lục
Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Diệp Kỉnh Tần cho biết, ngành NN-PTNT triển khai kế hoạch năm 2011 trong điều kiện phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nhưng toàn ngành đã tích cực triển khai các biện pháp đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, nghiêm túc thực hiện các giải pháp về kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Do đó, nông nghiệp và nông thôn tiếp tục có những bước phát triển khá toàn diện. Đời sống nông dân ngày càng được cải thiện.
Những kết quả đạt được của ngành trong năm qua được thể hiện qua các số liệu thuyết phục của Tổng cục Thống kê: giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nông nghiệp tăng 4,78%, lâm nghiệp tăng 5,74%, thủy sản tăng 6,39%. Tốc độ tăng trưởng của ngành (GDP nông nghiệp) tăng 2,3%.
Trong tất cả các kết quả trên, nổi bật hơn cả là tổng sản lượng lúa với 42,2 triệu tấn, cao nhất từ trước đến nay, tăng 2,2 triệu tấn so với cùng kỳ, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Cũng từ đây, sản lượng gạo XK đạt đến 7,2 triệu tấn, thu về cho đất nước nguồn ngoại tệ 3,7 tỷ USD. “Ngoài ra, sản lượng ngô, khoai lang, sắn và rau xanh cũng tăng đáng kể so với cùng kỳ. Đây chính là kết quả của việc tập trung chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất, thực hiện mạnh mẽ các giải pháp hỗ trợ, khuyến khích, đồng thời chuyển đổi mạnh mẽ cơ cấu giống, thời vụ và phòng trừ hiệu quả dịch bệnh trên cây trồng”, Thứ trưởng Diệp Kỉnh Tần cho hay.
Đóng góp lớn vào thành tích của ngành nông nghiệp là lĩnh vực XK. Năm qua, hầu hết các mặt hàng XK nông lâm thủy sản của Việt Nam đều đạt sản lượng lớn và mức giá cao, tạo nên “thắng lợi kép” được mùa, được giá của ngành. Ước cả năm, tổng kim ngạch XK nông lâm thủy sản đạt gần 25 tỷ USD, tăng 29% (khoảng 5 tỷ USD) so với năm 2010. Thặng dư thương mại của toàn ngành đạt trên 9,2 tỷ USD, góp phần lớn vào việc hạn chế nhập siêu của cả nước. Có 4 mặt hàng là thủy sản, đồ gỗ, gạo và cao su đạt kim ngạch XK trên 3 tỷ USD, cà phê có kim ngạch trên 2 tỷ USD và hạt điều trên 1 tỷ USD.
Ngoài những thành tựu về sản xuất, XK, hạ tầng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được nâng cao, hiện đại hóa. Hệ thống thủy lợi được đầu tư, đặc biệt là các công trình cấp bách, trọng điểm. Bộ NN-PTNT đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương theo dõi sát diễn biến thời tiết, nguồn nước và chỉ đạo triển khai các giải pháp thủy lợi, vận hành hiệu quả toàn bộ hệ thống. “Song song với đó, các cơ sở nghiên cứu và sản xuất cây trồng, vật nuôi, giống cây lâm nghiệp và giống thủy sản cũng được ưu tiên hiện đại hóa trang thiết bị và vật chất. Nhờ đó, ngành nông nghiệp đã ứng dụng được công nghệ cao vào sản xuất, lai tạo những giống cây, con có chất lượng, năng suất cao và khả năng chống chịu dịch bệnh tốt”, Thứ trưởng Tần thông tin.
Tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, trong năm 2012, Bộ NN-PTNT xác định nhiều giải pháp hiệu quả. Trong đó, tiếp tục hướng tới mục tiêu đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, đồng thời phát huy được tiềm năng, thế mạnh của các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước và XK. “Tập trung đẩy mạnh áp dụng KHKT vào sản xuất, bao gồm cả công nghệ cao, các quy trình sản xuất tiên tiến để nâng cao hiệu quả sản xuất của các sản phẩm nông nghiệp, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm là những ưu tiên của ngành trong năm tới”, Bộ trưởng Cao Đức Phát nhấn mạnh.
Tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
Không thỏa mãn với những thành tích đạt được, Bộ trưởng Cao Đức Phát cho rằng, dù đạt được những kết quả khá ấn tượng, nhưng tốc độ tăng trưởng GDP của ngành đang chậm lại. “Chúng ta làm số lượng ngày càng nhiều, nhưng giá trị gia tăng chưa cao, nghĩa là làm nhiều nhưng được ít tiền. Đây là thách thức của ngành trong thời gian tới”, Bộ trưởng nói.
Theo Bộ trưởng, để tạo ra giá trị gia tăng các sản phẩm nông nghiệp ngày càng cao, việc cần làm ngay là tái cơ cấu ngành. Định hướng của việc này là xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Ngoài ra, nông nghiệp Việt Nam sẽ hướng tới trở thành một cường quốc XK nông sản với tốc độ tăng trưởng bình quân toàn ngành từ 2,6-3%/năm.
“Một trong những biện pháp trước mắt là tiếp tục thúc đẩy phát triển mạnh các ngành hàng có lợi thế cạnh tranh và có thị trường ổn định như nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là cá tra, tôm, nhuyễn thể..., chăn nuôi gia cầm, lợn và bò sữa. Ngoài ra, đối với ngành trồng trọt, cần tập trung tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành, điều chỉnh cơ cấu giống cây trồng theo lợi thế vùng miền. Trong lâm nghiệp ưu tiên phát triển rừng kinh tế và các dịch vụ môi trường rừng…”, Bộ trưởng chỉ đạo.
Về các giải pháp tái cơ cấu ngành, theo nhiều ý kiến thảo luận tại hội nghị, cần điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực. Cụ thể là ưu tiên vốn cho các chương trình, dự án về chọn tạo, nhân giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản để phòng chống dịch bệnh và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Thực hiện rà soát, phân loại các dự án đầu tư để điều chỉnh vốn. Theo Bộ trưởng, điều chỉnh cơ cấu đầu tư không phải là chia lại ngân sách nhà nước, mà ưu tiên hơn cho khối tư nhân, hợp tác công tư (PPP), trong đó phân công rõ vai trò của Nhà nước, tư nhân để hợp tác.
Ngoài ra, cần nâng cao hiệu quả, chất lượng đầu tư, đổi mới DNNN và phát triển các thành phần kinh tế; tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách và ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển.
Thủy sản, đồ gỗ đạt kim ngạch XK “khủng” Năm 2011, giá cả hàng nông lâm thủy sản trên thị trường thế giới tăng mạnh. Đồng thời, sản xuất trong nước được mùa nên nguồn hàng phục vụ XK dồi dào. 4 mặt hàng đạt kim ngạch XK trên 3 tỷ USD là thủy sản, lúa gạo, đồ gỗ và cao su. Trong đó, thủy sản đạt kim ngạch tới 6,1 tỷ USD, đồ gỗ 4,1 tỷ USD... |
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho rằng, năm qua dù gặp nhiều khó khăn, nhưng ngành nông nghiệp đã đạt nhiều thành tựu. Chính phủ đánh giá cao những nỗ lực của Bộ NN-PTNT và các địa phương trong việc khuyến khích, thúc đẩy nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng và phát triển bền vững, là động lực quan trọng trong đảm bảo an sinh xã hội, đặc biệt là khu vực nông thôn.
Phó Thủ tướng đề nghị, ngành cần tập trung đầu tư cho nhóm sản phẩm chủ lực, có hiệu quả kinh tế cao; cần lưu ý, nghiên cứu thị trường XK nông sản có tiềm năng rất lớn là Trung Quốc. “Trong năm 2012, ngành cần tập trung nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, trong đó tăng sản lượng và chất lượng các sản phẩm nông lâm thủy sản; dự báo giá cả thị trường các sản phẩm XK chủ lực và tiềm năng của các sản phẩm phục vụ XK”, Phó Thủ tướng nói.
Cũng theo Phó Thủ tướng, trong đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, cần kết hợp đầu tư công và thu hút đầu tư khu vực tư nhân vào lĩnh vực phát triển của ngành; xây dựng kế hoạch, phương hướng phát triển trên cơ sở có tính toán đến tác động của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường. Thời gian tới, Bộ NN-PTNT cần thống kê những chỉ tiêu về năng suất, hiệu quả cụ thể của từng cây, con trong từng vùng, và thu nhập của người dân tại địa phương đó, để có đánh giá, tìm ra cách làm mang lại hiệu quả nhất. Trong tái cơ cấu ngành, cần lựa chọn và tập trung ưu tiên cho các nhóm sản phẩm chủ lực, mang lại giá trị kinh tế cao...
Các nhóm giải pháp phát triển ngành bền vững Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, nguyên nhân quan trọng để ngành nông nghiệp đạt được những kết quả trên là do sự chỉ đạo quyết liệt, kịp thời và đúng đắn của Bộ và các cấp chính quyền, sự vào cuộc quyết tâm của bà con nông dân. Để duy trì và phát triển bền vững trong năm 2012, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp: - Rà soát để điều chỉnh cơ cấu sản xuất, tập trung phát triển các loại cây con, lĩnh vực đem lại giá trị gia tăng cao. Bài học suốt 20 năm qua của ngành cho thấy, tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thế mạnh sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao. - Để thực hiện được chủ trương tái cơ cấu, trước hết phải tìm cách điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư. Trước mắt, cần phát huy nhanh hơn đầu tư công. Về lâu dài phải huy động các nguồn lực đa dạng tập trung vào lĩnh vực trọng tâm. - Tiếp tục thực hiện tốt chủ trương đổi mới DNNN, đặc biệt là 15 tập đoàn, TCty thuộc Bộ. Với các DN thành viên là khoảng 500 đơn vị, đã cơ bản hoàn thành CPH. Còn lại số ít cần được thực hiện triệt để. Ngoài ra, phải sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường quốc doanh. Đồng thời, đổi mới và nâng cao hiệu quả kinh tế hợp tác, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân. - Phát triển chăn nuôi theo hướng hiện đại, tập trung chăn nuôi quy mô hộ gia đình theo mô hình bán công nghiệp, đi kèm với công tác quản lý dịch bệnh. Đây cũng là nội dung điều chỉnh lại cơ cấu sản xuất. - Tăng cường các liên kết sản xuất, chế biến, liên kết theo chuỗi, mô hình cánh đồng mẫu lớn, sản xuất nông nghiệp có xác nhận, kết hợp với tìm đầu ra ổn định cho nông sản. - Triển khai tốt đề án đào tạo nghề cho nông dân. |
Bà Phan Thị Yến Nhi, GĐ Sở NN-PTNT An Giang: “Thu hút đầu tư mạnh vào nông nghiệp” Hiện An Giang đang xác định nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp bằng cách thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực này. Nhiều DN trong và ngoài tỉnh đã xây dựng hệ thống kho chứa lúa gạo và dây chuyền chế biến các sản phẩm nông sản để chủ động thu mua của nông dân. Tuy nhiên, tỉnh An Giang đang rất lúng túng trong cơ chế ưu đãi cho các DN này. Chúng tôi đề nghị Bộ NN-PTNT và các ban, ngành Trung ương xem xét, hỗ trợ tỉnh để nhanh chóng có giải pháp thích hợp. Ông Nguyễn Hữu Dương, GĐ Sở NN-PTNT Hải Dương: “Cần làm sạch môi trường trong sản xuất nông nghiệp” Tỉnh Hải Dương có khoảng 73 nghìn ha đất nông nghiệp, nhưng thống kê của chúng tôi cho thấy, mỗi năm có tới 300 tấn thuốc bảo vệ thực vật rải rác khắp các cánh đồng. Đây là số lượng rất lớn, ảnh hưởng tới sức khỏe nông dân. Thêm nữa, 10 nghìn ha trong số diện tích đất nông nghiệp của chúng tôi cũng “được” tưới tiêu bằng nguồn nước không sạch do các KCN, khu dân cư thải ra. Hải Dương là vựa rau của miền Bắc, nhưng chúng tôi cũng rất không hài lòng với quy trình trồng rau của bà con nông dân, có nơi 3 ngày phun thuốc trừ sâu cho rau 1 lần. Do đó, chúng tôi đề nghị, cần sớm có biện pháp làm sạch môi trường trong sản xuất nông nghiệp. Ông Nguyễn Văn Bộ, GĐ Viện KH Nông nghiệp VN: “Tạo được liên kết trong sản xuất” Theo đánh giá của tôi, hiện nay giữa nhà khoa học và nông dân đã rất gần nhau thông qua chính sách liên kết “4 nhà” và đã tạo ra được mối liên kết hữu cơ. Tuy nhiên, lợi ích của các nhà phải được chia sẻ. Hiện nay, lợi ích đó đang được mua đứt, bán đoạn, thành thử không tạo thành liên kết. DN chỉ quan tâm mua các sản phẩm khi có thị trường còn người ta không quan tâm đến việc đặt hàng nông dân những sản phẩm mà họ cần mua. Khi người ta đặt hàng đúng những sản phẩm thị trường yêu cầu, cho nông dân là một bộ phận cấu thành của người ta thì nhà khoa học mới có vai trò để giúp nông dân sản xuất những sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu thị trường. Để sản xuất phát triển phải có 3 yếu tố quan trọng là vốn, thị trường, khoa học. Nhà nước không thể bỏ vốn được mà phải thông qua DN. DN thay mặt nông dân xác định thị trường, thị trường có yêu cầu gì, sản phẩm yêu cầu chất lượng ra sao, qui mô, số lượng, thời điểm như thế nào thì đặt hàng trở lại với nông dân sản xuất loại sản phẩm đó. |
| Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phát biểu chỉ đạo hội nghị |
“Đầu năm chống rét, giữa năm chống hạn, lại gặp lũ lớn ở miền Trung và ĐBSCL, nhưng nông nghiệp vẫn đạt những thành tích nổi bật, được Đảng, Chính phủ ghi nhận”, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Cao Đức Phát khẳng định trong cuộc họp tổng kết ngành năm 2011 và bàn phương hướng nhiệm vụ năm 2012, tổ chức ngày 24 và 25/12, tại Hà Nội. Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân dự và chỉ đạo hội nghị.
Nguồn: nongnghiep.vn
Điện Biên: Kết quả mô hình máy làm đất đa năng
Ngày 20/12/2011, Trung tâm Khuyến nông Điện Biên phối hợp với Đảng uỷ, Uỷ ban Nhân dân xã Thanh Luông, huyện Điện Biên tổ chức Hội nghị tổng kết đánh giá kết quả mô hình máy làm đất đa năng 1Z - 41A với quy mô 5 máy/5 hộ nông dân tham gia, tại 5 đội sản xuất 2b, 6, 7, 12b,13b xã Thanh Luông.
Thời gian tổ chức hội nghị tổng kết đánh giá kết quả mô hình đúng vào lúc bà con nông dân đang tiến hành làm đất vụ chiêm xuân. Các hộ nông dân tham gia mô hình cho biết, với 1 ha đất ruộng trồng lúa làm bằng máy làm đất đa năng sẽ hết 2 công, tính tổng chi phí khấu hao máy, nhiên liệu, và công lao động hết 818.000 đồng. Nếu cày bằng trâu mất 14 công, với giá công lao động 100.000 đồng/công thì 1 ha làm đất bằng trâu cày hết 1.400.000 đồng. Như vậy, làm đất bằng máy đa năng tiết kiệm được 582.000đ/ha so với làm bằng trâu, quan trọng hơn nữa là đã giải phóng được sức lao động nặng nhọc cho con người trong khâu làm đất, đẩy nhanh được tiến độ làm đất tại thời điểm mùa vụ bận rộn, góp phần giải quyết được sự thiếu hụt lao động. Với mô hình này các hộ nông dân được tiếp cận với cơ giới hoá nông nghiệp nông thôn, làm đất cho gia đình. Bên cạnh đó, các hộ tham gia mô hình còn có thể cày thuê cho bà con nông dân trong đội, xã tăng thêm thu nhập cho gia đình.
Theo đánh giá của bà con nông dân tham gia mô hình cho thấy máy làm đất đa năng có ưu điểm gọn nhẹ, thao tác sử dụng đơn giản, tiết kiệm được nhiên liệu, làm đất có hiệu quả trên diện tích màu đồi, bãi, ruộng bậc thang, ruộng nhỏ, manh mún. Máy làm đất đa năng 1Z - 41A có khả năng phay rạ sau khi thu hoạch, đánh luống trồng rau, lạc, ngô trên đất màu ở các vụ trong năm, máy còn có thể liên kết được với nhiều loại công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp khác như: bơm nước, vận chuyển, xay xát… Đây là mô hình do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia hỗ trợ đầu tư kinh phí 100% vật tư thiết bị cho hộ nông dân thuộc vùng khó khăn.
Tại hội nghị, bà con nông dân đã đề xuất các nhà chuyên môn kiến nghị với nhà sản xuất cần cải tiến thêm bánh phụ cho máy nhằm giúp người sử dụng máy được dễ dàng hơn.
Thời gian tổ chức hội nghị tổng kết đánh giá kết quả mô hình đúng vào lúc bà con nông dân đang tiến hành làm đất vụ chiêm xuân. Các hộ nông dân tham gia mô hình cho biết, với 1 ha đất ruộng trồng lúa làm bằng máy làm đất đa năng sẽ hết 2 công, tính tổng chi phí khấu hao máy, nhiên liệu, và công lao động hết 818.000 đồng. Nếu cày bằng trâu mất 14 công, với giá công lao động 100.000 đồng/công thì 1 ha làm đất bằng trâu cày hết 1.400.000 đồng. Như vậy, làm đất bằng máy đa năng tiết kiệm được 582.000đ/ha so với làm bằng trâu, quan trọng hơn nữa là đã giải phóng được sức lao động nặng nhọc cho con người trong khâu làm đất, đẩy nhanh được tiến độ làm đất tại thời điểm mùa vụ bận rộn, góp phần giải quyết được sự thiếu hụt lao động. Với mô hình này các hộ nông dân được tiếp cận với cơ giới hoá nông nghiệp nông thôn, làm đất cho gia đình. Bên cạnh đó, các hộ tham gia mô hình còn có thể cày thuê cho bà con nông dân trong đội, xã tăng thêm thu nhập cho gia đình.Theo đánh giá của bà con nông dân tham gia mô hình cho thấy máy làm đất đa năng có ưu điểm gọn nhẹ, thao tác sử dụng đơn giản, tiết kiệm được nhiên liệu, làm đất có hiệu quả trên diện tích màu đồi, bãi, ruộng bậc thang, ruộng nhỏ, manh mún. Máy làm đất đa năng 1Z - 41A có khả năng phay rạ sau khi thu hoạch, đánh luống trồng rau, lạc, ngô trên đất màu ở các vụ trong năm, máy còn có thể liên kết được với nhiều loại công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp khác như: bơm nước, vận chuyển, xay xát… Đây là mô hình do Trung tâm Khuyến nông Quốc gia hỗ trợ đầu tư kinh phí 100% vật tư thiết bị cho hộ nông dân thuộc vùng khó khăn.
Tại hội nghị, bà con nông dân đã đề xuất các nhà chuyên môn kiến nghị với nhà sản xuất cần cải tiến thêm bánh phụ cho máy nhằm giúp người sử dụng máy được dễ dàng hơn.
Đinh Thị Thu Hà - TTKN Điện Biên
Thứ Sáu, 23 tháng 12, 2011
Ngô nếp lai HN88 - chất lượng nhất
Vụ đông năm 2011, HTX dịch vụ nông nghiệp xã Xuy Xá, Mỹ Đức, Hà Nội đã trực tiếp đầu tư cho nông dân giống ngô nếp lai HN88 để trồng trình diễn với diện tích 2 ha trên chân đất 2 vụ lúa 1 màu. Đây là giống ngô nếp lai F1, bản quyền của Công ty cổ phần Giống cây trồng Trung ương.
Ngày 17/12/2011, HTX dịch vụ nông nghiệp Xuy Xá đã phối hợp với Công ty CP giống cây trồng Trung ương tổ chức hội nghị đầu bờ giống ngô nếp lai HN88 tại địa bàn thôn Nội, xã Xuy Xá với sự tham gia của trên 100 đại biểu nông dân trong xã, Trạm khuyến nông, Trạm BVTV huyện Mỹ Đức và một số xã trong huyện.
Được cảm nhận trực tiếp kết quả của giống ngô nếp lai HN88 trên đồng ruộng với sự đồng đều của quần thể, tỷ lệ cây có bắp >95%, bắp to dài, đóng múp đến tận đỉnh…, đa số đại biểu đều rất hài lòng và mong muốn được tiếp tục phát triển giống ngô nếp lai mới này trong các mùa vụ gieo trồng tới.
Ông Nguyễn Văn Mã, Phó chủ nhiệm HTX dịch vụ nông nghiệp xã Xuy Xá, khuôn mặt rạng rỡ, đi lại trên cánh đồng ngô nếp lai HN88 (ảnh) nhìn những luống ngô lừng lững bắp, trải dài, phấn khích bộc bạch: “Mô hình này chúng tôi đã thành công và đạt được 3 mục tiêu chính. Dân có lãi lớn, giải quyết được lao động dư thừa và quan trong hơn là đã tìm ra hướng đi mới để làm giàu mà bao năm chúng tôi trăn trở. Kế hoạch trong vụ đông 2012, chúng tôi sẽ mở rộng diện tích trồng HN88 lên 185 ha. Cái lo nhất của người dân là giải quyết đầu ra thì ban lãnh đạo chúng tôi đã có hướng khả thi rồi. Đấy anh xem, ngay vụ này, nếu bán ngay tại ruộng, nhiều thương lái cũng sẵn sàng mua ngay với giá cao, chí ít cũng phải được ba nghìn rưỡi một bắp rồi anh ạ”.
Chị Phạm Thị Mận, xã viên đội 8 cho biết: giống ngô này cho bắp to, năng suất cao không kém gì ngô tẻ nhưng bán bắp luộc làm hàng hóa thì có giá trị kinh tế hơn nhiều, giống cũng dễ làm, ít sâu bệnh và không tốn nhiều công… Vụ sau gia đình tôi nhất định sẽ trồng và mong muốn bà con nông dân khác cùng trồng để tăng thêm thu nhập.
Đại diện cho Trạm Khuyến nông huyện Mỹ Đức, chị Nguyễn Thị Khanh, Trưởng trạm hoàn toàn ủng hộ và mong muốn mở rộng mô hình ra toàn huyện vì qua nhiều năm theo dõi và chỉ đạo một số xã trồng thử giống ngô HN88 thì đây là giống ngô nếp lai cho năng suất cao và chất lượng ngon nhất trên thị trường Mỹ Đức hiện nay. Trạm sẽ kiến nghị UBND huyện mở rộng diện tích trồng HN88 và tiếp tục khuyến cáo bà con nông dân tiếp thu kết quả mô hình, đưa giống ngô nếp lai HN88 vào chân đất màu, đất vụ đông tăng vụ, đất chuyển đổi từ trồng lúa không chủ động nước, năng suất thấp sang trồng ngô hàng hóa. Đây là hướng đi đúng, giúp bà con tăng nhanh thu nhập để làm giàu.
Một số đặc điểm chính của HN88: Lột vỏ ngoài, năng suất 420-450kg/sào. Chất lượng bắp luộc ăn tươi rất ngon, ăn nguội vẫn dẻo, có vị đậm, mùi thơm đặc trưng. Cây sinh trưởng khỏe, kháng sâu bệnh, chịu úng, hạn và rét tốt. Khoảng cách trồng 70 x 25cm. Bón 5-10 tấn phân chuồng, 300kg urê, 500- 550kg supe lân, 150-180 kaliclorua/ha. Khuyến cáo sử dụng NPK thay thế các loại phân trên. HN88 có thể trồng quanh năm trên nhiều loại đất nhưng phải đảm bảo đủ nước và tránh thời điểm khi cây ngô trỗ cờ, phun râu gặp điều kiện nhiệt độ cao (>33oC), khô hanh hoặc thời tiết rét đậm để đảm bảo đạt năng suất và hiệu quả cao nhất.
Để biết thêm thông tin, bạn đọc có thể liên hệ Công ty CP Giống cây trồng Trung ương qua điện thoại: 0438523294, 0438523267, 0913580247.
Nguồn: nongnghiep.vn
Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011
Dùng bùn đỏ xử lý ô nhiễm kim loại trong nước thải
Tiến sỹ Nguyễn Trung Minh và đồng nghiệp, thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã nghiên cứu thành công việc tận dụng thành phần có ích của bùn đỏ, để tạo ra một loại vật liệu mới có khả năng xử lý ô nhiễm kim loại nặng trong nước thải, thân thiện với môi trường, có khả năng hấp thụ cao, giá thành rẻ, phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Bùn đỏ là sản phẩm (chất thải rắn) của quá trình khai thác bauxite và tinh chế Alumina. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu xử lý bùn đỏ, nhằm mục đích loại bỏ một phần hoặc tiêu hủy an toàn và vận dụng thành phần có ích của nó.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Trung Minh, việc nghiên cứu phát triển các sản phẩm chế tạo từ bùn đỏ hết sức quan trọng và cấp bách hiện nay, đáp ứng được cả 2 mục tiêu. Đó là giảm được lượng chất thải trong quá trình khai thác, chế biến bauxite, vừa tận dụng chất thải dư thừa trong khai thác, chế biến quặng tạo ra loại vật liệu có khả năng xử lý các ô nhiễm ion kim loại nặng, các chất độc hại khác trong môi trường nước.
Đây là nhu cầu thực tế và bức xúc hiện nay tại các khu kinh tế Tây Nguyên và nhiều địa phương, như Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và ven biển Miền Trung.
Kết quả nghiên cứu ban đầu cho thấy sự hấp phụ của vật liệu chế tạo từ bùn đỏ Bảo Lộc - Lâm Đồng với ion kim loại nặng Pb2+ và các thông số hóa lý, hấp phụ đẳng nhiệt khác, đã chỉ ra khả năng sử dụng bùn đỏ để xử lý ô nhiễm chất thải. Đó là trộn bùn đỏ với các loại phụ gia như dầu cốc, cao lanh, thủy tinh lỏng (Na2SiO3) theo tỷ lệ nhất định, thêm lượng nước phù hợp và trộn nhuyễn.
Hạt vật liệu có đường kính cỡ 2,5mm, nung mẫu ở các nhiệt độ khác nhau từ 400-900 độ C. Trong đó mẫu C1 được chọn vì có dung lượng hấp và 0% hấp là tốt nhất, đáp ứng được yêu cầu của một vật liệu hấp phụ thực tế.
Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2011
Khí thải nhà kính vọt lên mức kỷ lục
Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) thông báo lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính đã tăng lên mức cao nhất trong năm 2010 kể từ thời điểm tiền công nghiệp.
Các nhà khoa học cảnh báo, hiệu ứng nhà kính khiến trái đất ấm lên, hàng tỷ người có thể chết đói. Ảnh minh họa: usnews.com.
Tuy nhiên, khí thải từ quá trình đốt các nhiên liệu hóa thạch, chặt phá rừng và những thay đổi trong quá trình sử dụng đất làm cho khí CO2 tăng 39% so với năm 1750 - thời điểm thế giới bước vào kỷ nguyên công nghiệp hóa.
Năm 2010, nồng độ khí metan trung bình là 1.808 phân tử trong một tỷ phân tử không khí ở trạng thái khô, tăng nhẹ so với năm 2009 và tăng 158% kể từ năm 1750.
Xinhua cho biết, đây là bản báo cáo tác hại hiệu ứng nhà kính thứ 7 trong một loạt các báo cáo về tác hại của hiệu ứng nhà kính kể từ năm 2004.
Trang Nguyên
Phát hiện loại nấm giúp lúa lớn nhanh
Các nhà nghiên cứu tại Thụy Sĩ vừa qua tuyên bố họ vừa phát hiện một loại nấm siêu nhỏ có khả năng làm cho lúa tăng trưởng nhanh gấp 5 lần.
Ảnh minh họa: carto.net.
AFP cho biết, các nhà khoa học của Đại học Lausanne, Thụy Sĩ, phát hiện tác dụng của nấm mycorrhiza sau 4 năm tiến hành thử nghiệm đối với 20 mẫu bào tử khác nhau của nó. Kết quả cho thấy, một số bào tử khiến lúa phát triển chậm hơn, song hai bào tử trong số đó lại khiến lúa tăng trưởng nhanh gấp 5 lần.
Caroline Angelard, một thành viên trong nhóm nghiên cứu, nói mycorrhiza đặc biệt hơn các loại nấm khác ở chỗ nó sản sinh ra các bào tử hoàn toàn khác nhau về cấu trúc gene. Do đó, việc bào tử làm tăng hay giảm tốc độ phát triển của lúa phụ thuộc vào cấu trúc gene của chúng.
Hiện tại nhóm nghiên cứu chưa biết tại sao bào tử nấm có thể thể làm tăng tốc độ tăng trưởng của lúa. “Chúng tôi sẽ phải nghiên cứu mối quan hệ cộng sinh giữa nấm và cây lúa trong một số điều kiện cụ thể”, Angelard nói với AFP.
Do kích thước của nấm mycorrhiza rất nhỏ nên mắt người không thể nhìn thấy chúng. Khi cộng sinh với lúa, chúng vận chuyển các chất dinh dưỡng và chất khoáng, trong đó có các hợp chất phospate, tới phần trên của cây lúa. Nhờ vậy nông dân sẽ không phải sử dụng các loại phân bón hóa học chứa phosphate. Nếu nông dân không sử dụng phân bón hóa học chứa phosphate, môi trường xung quanh ruộng lúa sẽ trở nên sạch hơn.
Nấm mycorrhiza có thể được trồng ở quy mô lớn và xuất hiện trên thị trường trong 2-5 năm nữa.
Ian Sanders, trưởng nhóm nghiên cứu, khẳng định rằng kích thích sự phát triển của lúa bằng nấm là biện pháp hoàn toàn tự nhiên, nghĩa là không gây đột biến gene.
“Không có bất kỳ gene mới nào xâm nhập vào cây lúa. Biện pháp dùng nấm không làm biến đổi cấu trúc gene của cây”, ông phát biểu.
Nhóm của Sanders cũng đang tiến hành các thử nghiệm trên nhiều cánh đồng khoai tây ở Columbia. Tới năm 2011 họ sẽ tiến hành thử nghiệm tác dụng của nấm mycorrhiza đối với cây sắn.
Minh Long
Thuốc trừ sâu đang làm hại lúa
Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI) kêu gọi nông dân hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu trên ruộng lúa bởi chúng tiêu diệt những kẻ thù tự nhiên của rầy, nhóm côn trùng ăn lúa đáng sợ nhất tại châu Á.
Trong “Cách mạng Xanh” hồi thập niên 70, sự kiện góp phần giúp hàng triệu người châu Á thoát nghèo nhờ sử dụng thuốc trừ sâu trên ruộng lúa, nông dân sử dụng thuốc trừ sâu trên diện rộng để tiêu diệt những động vật gây hại cho lúa. Nhưng giờ đây IRRI cho rằng nông dân cần áp dụng những biện pháp canh tác thân thiện với môi trường hơn, AFP đưa tin.
Hàng loạt nghiên cứu của IRRI chỉ ra rằng sự hiện diện của thuốc trừ sâu cùng với tình trạng đa dạng sinh thái nghèo nàn trên các đồng ruộng khiến số lượng côn trùng và nhện săn rầy, một loài côn trùng có hại đối với lúa tại châu Á, giảm mạnh.
“Để ngăn chặn sự bùng phát của rầy, chúng ta phải làm tăng số lượng kẻ thù của chúng trong tự nhiên và giảm lượng thuốc trừ sâu trên đồng ruộng”, IRRI tuyên bố.
Nông dân cũng nên đa dạng hóa những giống lúa tại châu Á, khu vực sản xuất và tiêu thụ gạo chủ yếu của thế giới.
Canh tác ba vụ lúa mỗi năm hoặc chỉ trồng một giống lúa trên đồng ruộng trong thời gian dài có thể tạo điều kiện cho rầy thích nghi với môi trường xung quanh và tăng kích cỡ, IRRI nhận định.
Với sự ủng hộ của IRRI, Thái Lan đã cấm sử dụng abamectin và cypermethrin - hai loại thuốc trừ sâu dành cho lúa – từ ba tháng trước. Giới chức Thái Lan khẳng định việc sử dụng thuốc trừ sâu tràn lan và không đúng cách khiến số lượng rầy tăng vọt.
Việt Nam đã bắt đầu trồng hoa gần các ruộng lúa tại tỉnh An Giang từ tháng 3 để nuôi những loài động vật săn rầy, IRRI cho biết.
“Chúng ta cần xem xét lại những chiến lược quản lý các loài gây hại. Nông dân không nên chỉ nghĩ tới việc đối phó những đợt bùng phát số lượng rầy ở giai đoạn hiện tại, mà còn phải ngăn chặn và quản lý chúng một cách hiệu quả trong tương lai”, Bas Bouman, trưởng bộ phận môi trường của IRRI, bình luận.
Minh Long
Nông dân phun thuốc trừ sâu trên ruộng lúa tại Việt Nam. Ảnh: baolaocai.vn.
Trong “Cách mạng Xanh” hồi thập niên 70, sự kiện góp phần giúp hàng triệu người châu Á thoát nghèo nhờ sử dụng thuốc trừ sâu trên ruộng lúa, nông dân sử dụng thuốc trừ sâu trên diện rộng để tiêu diệt những động vật gây hại cho lúa. Nhưng giờ đây IRRI cho rằng nông dân cần áp dụng những biện pháp canh tác thân thiện với môi trường hơn, AFP đưa tin.
Hàng loạt nghiên cứu của IRRI chỉ ra rằng sự hiện diện của thuốc trừ sâu cùng với tình trạng đa dạng sinh thái nghèo nàn trên các đồng ruộng khiến số lượng côn trùng và nhện săn rầy, một loài côn trùng có hại đối với lúa tại châu Á, giảm mạnh.
“Để ngăn chặn sự bùng phát của rầy, chúng ta phải làm tăng số lượng kẻ thù của chúng trong tự nhiên và giảm lượng thuốc trừ sâu trên đồng ruộng”, IRRI tuyên bố.
Nông dân cũng nên đa dạng hóa những giống lúa tại châu Á, khu vực sản xuất và tiêu thụ gạo chủ yếu của thế giới.
Canh tác ba vụ lúa mỗi năm hoặc chỉ trồng một giống lúa trên đồng ruộng trong thời gian dài có thể tạo điều kiện cho rầy thích nghi với môi trường xung quanh và tăng kích cỡ, IRRI nhận định.
Với sự ủng hộ của IRRI, Thái Lan đã cấm sử dụng abamectin và cypermethrin - hai loại thuốc trừ sâu dành cho lúa – từ ba tháng trước. Giới chức Thái Lan khẳng định việc sử dụng thuốc trừ sâu tràn lan và không đúng cách khiến số lượng rầy tăng vọt.
Việt Nam đã bắt đầu trồng hoa gần các ruộng lúa tại tỉnh An Giang từ tháng 3 để nuôi những loài động vật săn rầy, IRRI cho biết.
“Chúng ta cần xem xét lại những chiến lược quản lý các loài gây hại. Nông dân không nên chỉ nghĩ tới việc đối phó những đợt bùng phát số lượng rầy ở giai đoạn hiện tại, mà còn phải ngăn chặn và quản lý chúng một cách hiệu quả trong tương lai”, Bas Bouman, trưởng bộ phận môi trường của IRRI, bình luận.
Minh Long
Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011
Thực tập GIS Quản lý đất đai
Thực tập GIS Quản lý đất đai
Võ Quang Minh
12/2005
Tải về
Bài 1. Thu thập và xây dựng cơ sở dữ liệu cho hệ thống thông tin địa lý
Bài 2. Chuyển dữ liệu raster vào phần mềm GIS (IDRISI)
Bài 3. Ứng dụng kỹ thuật GIS phân hạng đất nông nghiệp
Bài 4. Ứng dụng kỹ thuật GIS xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
Bài 5. Ứng dụng kỹ thuật GIS đánh giá khả năng thích nghi các cơ cấu cây trồng
Bài 6. Sử dụng GPS đo tọa độ và thu thập thông tin ô nhiễm tại khu vực nghiên cứu
Bài 7. Phương pháp nhập dữ liệu và tạo bản dồ ô nhiễm trong phần mềm Surfer
Định dạng file PRC (Mở bằng chương trình Mobireader mình gửi kèm file tài liệu. Các bạn kích đúp vào file "mobireadersetup.msi" để cài đặt chương trình).
Tải về
Bài giảng khoa học đất
BÀI GIẢNG KHOA HỌC ĐẤT
Biên soạn: TS. Lê Thanh Bồn
Trường Đại học Nông - Lâm Huế
Dự án hợp tác Việt Nam - Hà Lan
Tải về
BÀI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 - Các khoáng vật và đá hình thành đất................................
1.1. Khoáng vật.................................................................................................
1.1.1. Khái niệm. ................................................................................................
1.1.2. Phân loại khoáng vật . .....................................................................................
1.2. Các loại đá hình thành đất ..........................................................................................
1.2.1. Khái niệm chung về đá. .................................................................................
1.2.2. Phân loại đá. ................................................................................................
Chương 2 –Sự phong hóa đá và sự hình thành đất .....................................................
2.1. Sự phong hóa đá.................................................................................................
2.1.1. Khái niệm.................................................................................................
2.1.2. Phân loại. ................................................................................................................
2.1.3. Sản phẩm phong hóa. ............................................................................................
2.1.4. Vỏ phong hóa. ................................................................................................
2.2. Quá trình hình thành đất. ..............................................................................................
2.2.1. Khái niệm chung về sự hình thành đất................................................................
2.2.2. Các yếu tố hình thành đất: ....................................................................................
2.3. Hình thái đất. ..................................................................................................................
2.4. Một số quá trình thường xảy ra trong đất. ................................................................
2.4.1. Quá trình sét hóa ................................................................................................
2.4.2. Quá trình hình thành đá ong và kết von. .............................................................
2.4.3. Quá trình Feralit. ................................................................................................
2.4.4. Quá trình glây.................................................................................................
Chương 3 - Chất hữu cơ của đất......................................................................................
3.1. Khái niệm, thành phần và nguồn gốc chất hữu cơ của đất ................................
3.2. Quá trình biến hóa chất hữu cơ trong đất ...............................................................
3.2.1. Quá trình khoáng hóa chất hữu cơ................................................................
3.2.2. Quá trình mùn hóa chất hữu cơ ................................................................
3.3. Vai trò của chất hữu cơ và mùn đối với đất và cây. ................................
3.4. Chỉ tiêu đánh giá số lượng và chất lượng chất hữu cơ và mùn trong đất. ..............................................................................................................................
3.5. Biện pháp bảo vệ, nâng cao chất hữu cơ và mùn trong đất.
Chương 4 -Thành phần hóa học đất và chất dinh dưỡng đối với cây ..................
Chương 5 – Keo đất và khả năng hấp phụ của đất ..................................................
5.1. Keo đất. ........................................................................................................................
5.1.1. Khái niệm.............................................................................................................
5.1.2. Cấu tạo của hạt keo đất. .....................................................................................
5.1.3. Tính chất cơ bản của keo đất .................................................................
5.1.4. Phân loại keo đất .................................................................................................
2. Khả năng hấp phụ của đất..........................................................................................
5.2.1. Khái niệm.............................................................................................................
5.2.2. Các dạng hấp phụ của đất .................................................................................
5.2.3. Khả năng hấp phụ đối với độ phì đất và chế độ bón phân.................................
hương 6 - Dung dịch đất ..............................................................................................
6.1. Khái niệm. ...............................................................................................................
6.2. Vai trò của dung dịch đất: .....................................................................................
6.3. Đặc tính của dung dịch đất. ..................................................................................
6.3.1. Phản ứng của dung dịch đất: ................................................................
6.3.2. Tính đệm hay phản ứng đệm của đất. ........................................................
6.3.3. Phản ứng oxyhóa - khử của đất. ................................................................
hương 7 - Thành phần cơ giới của đất ................................................................
7.1. Khái niệm ...............................................................................................................
7.2. Phân chia cấp hạt . ................................................................................................
7.3. Thành phần và đặc tính của các cấp hạt..............................................................
7.4. Phân loại đất theo thành phần cơ giới. ................................................................
7.5.Ý nghĩa của việc xác định thành phần cơ giới đất ..............................................
7.6. Tính chất các loại đất có TPCG khác nhau .. ..................................................
Chương 8 - Kết cấu đất ................................................................................................
8.1. Khái niệm. ............................................................................................................
8.2. Các loại hạt kết đất . ............................................................................................
8.3. Sự hình thành hạt kết đất....................................................................................
8.4. Những nguyên nhân làm đất mất kết cấu.........................................................
8.5. Vai trò của kết cấu đất đối với đất và đối với cây. ................................
8.6. Biện pháp duy trì và cải thiện kết cấu đất. .......................................................
Chương 9 - Một số tính chất vật lý và cơ lý của đất ..............................................
9.1. Tỷ trọng đất ....................................................................................................
9.2. Dung trọng đất.................................................................................................
9.3. Độ xốp của đất.................................................................................................
9.4. Tính liên kết của đất. ........................................................................................
9.5. Tính dính của đất . ............................................................................................
9.6. Tính dẻo của đất ...............................................................................................
9.7. Tính trương và tính co của đất ..........................................................................
9.8. Sức cản của đất ................................................................................................
Chương 10 - Nước trong đất ....................................................................................
10.1. Vai trò của nước trong đất. .............................................................................
10.2. Các dạng nước trong đất ................................................................................
10.3. Các hằng số nước của đất .............................................................................
10.4. Sự bốc hơi nước của đất..................................................................................
10.5. Sự thấm nước của đất ....................................................................................
10.6. Cân bằng nước trong đất. ..............................................................................
10.7. Cách tính trữ lượng nước trong đất ................................................................
Chương 11 - Độ phì nhiêu của đất..........................................................................
11.1. Khái niệm về độ phì nhiêu của đất ................................................................
11.2- Phân loại độ phì nhiêu của đất ................................................................
11.3- Cơ sở đánh giá độ phì nhiêu của đất ...........................................................
11.4- Biện pháp nâng cao độ phì nhiêu của đất ....................................................
Chương 12 – Xói mòn đất......................................................................................
12.1. Khái niệm và tác hại của xói mòn đất ...........................................................
12.2. Các loại xói mòn đất......................................................................................
12.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến xói mòn đất. ..................................................
12.4. Các biện pháp chống xói mòn đất.................................................................
Chương 13 – Các loại đất chính của Việt Nam.......................................................
13.1. Các loại đất chính vùng đồi núi Việt Nam......................................................
13.1.1. Nhóm đất đỏ (F) - Ferralsols (FR)...............................................................
13.1.2. Nhóm đất xám (X) - Acrisols (AC)...............................................................
13.2. Các loại đất chính vùng đồng bằng việt nam................................................
13.2.1. Nhóm đất phù sa ......................................................................................
13.2.2. Nhóm đất cát.............................................................................................
13.2.3. Nhóm đất mặn ..........................................................................................
13.2.4. Nhóm đất phèn (đất chua mặn). ..............................................................
13.2.6. Nhóm đất glây ..........................................................................................
PHẦN THỰC HÀNH ................................................................................................
Bài 1. Đào phẫu diện, mô tả và lấy mẫu đất .........................................................
Bài 2. Xác định tỷ trọng, dung trọng và độ xốp đất ..............................................
Bài 3. Xác định độ chua, canxi và magiê của đất ..................................................
Bài 4. Phân tích một số chất tổng số trong đất.....................................................
Bài 5. Phân tích một số chất dễ tiêu trong đất .....................................................
Tài liệu tham khảo. ..............................................................................................
Tải về








