Thứ Tư, 30 tháng 11, 2011

Thư viện ảnh



Thư viện ảnh khoáng vật

Thư viện ảnh khoáng vật của bảo tàng hiện có 28 mẫu khoáng vật cùng hình ảnh và nội dung mô tả cho từng mẫu. Đây là những mẫu đá có liên quan đến nguồn gốc phát sinh các loại đất.

Tham quan thư viện ảnh khoáng vật tại đây.










Thủy Canh - Trồng cây không cần đất


Thủy canh thường được định nghĩa như là "Trồng cây trong nước". Tuy nhiên do có rất nhiều môi trường tổng hợp được sử dụng để trồng cây nên có thể mở rộng định nghĩa thủy canh là " trồng cây không sử dụng đất".

Từ nhiều thế kỷ trước ở vunAmmaaazon, Babylon, Ai Cập, Trung Quốc và Ấn Độ, người xưa đã biết sử dụng phân bón hòa tan để trồng dưa chuột, dưa hấu và nhiều loại rau củ khác. Sau đó các nhà sinh lý thực vật bắt đầu trồng cây trên môi trường dung dịch dinh dưỡng đặc biệt để thí nghiệm và gọi là "nuôi cấy dinh dưỡng".

Năm 1929, William F. GoGGoricke đã thàn công trong việc trồng cây cà chua đạt kích thước 7,5 m trong dịch dinh dưỡng. Ông gọi hệ thống mới này là "thủy canh" ("Hydroponic" - theo tiếng Hy Lạp, hydros là 'nước" và ponos là "làm việc"). Từ đó, thủy canh được ứng dụng và phát triển rộng rãi, và mở rộng thành các phương pháp trồng cây trên môi trường rắn trơ sử dụng dung dịch dinh dưỡng.

Việc trồng cây không có đất thật sự đem lại rất nhiều thuận lợi. Khi sử dụng một môi trường sạch khuẩn và không phải lo lắng đến việc trừ cỏ dại, trừ sâu và các côn trùng có hại trong đất. Hơn nữa khi dùng kỹ thuật thủy canh, cây trồng sẽ có được môi trường sống đầy đủ các thành phần dinh dưỡng thiết yếu. Do vậy cây sẽ sinh truỏng và phát triển nhanh hơn, việc canh tác cũng đơn giản hơn đối với cây rau và hoa. Một thuânnj lợi lớn của kỹ thuật thủy canh là cho phép thiết lập hệ thống nuôi trồng tự động. Khi sử dụng hệ thống tự động, người làm vườn có thể linh hoạt được thời gian chăm sóc cây trồng.

Trong tương lai, khi dân số ngày một gia tăng, đời sống được nâng cao, đất đai trở nên khan hiếm, thì kỹ thuật thủy canh dần dần thay thế phương pháp trồng trọt truyền thống. Vì không những mang lại món lợi nhuận không lồ cho ngành nông nghiệp, kỹ thuật này còn giúp giữ gìn môi trường được trong sạch, đây chính là mục tiêu được coi trọng hàng đầu để góp phần năng cao chất lượng cuộc sống của con người.

* Ưu điểm của kỹ thuật thủy canh:
- Không cần đất, chỉ cần không gian để đặt hộp dụng cụ trồng, do vậy có thể triển khai ở những vùng đất cằn cỗi như hải đảo, vùng núi xa xôi cũng như tại gia đình sân thượng, balcon.
- Không phải làm đất, không có cỏ dại, không cần tưới.
- Trồng được nhiều vụ, có thể trồng trái vụ,
- Không phải sử dụng thuốc trừ sâu bệnh và các hóa chất độc hại khác.
- Năng suất cao vì có thể trồng liên tục.
- Sản phẩm hoàn toàn sạch, đồng nhất. Giàu dinh dưỡng và tươi ngon.
- Không tích lũy chất độc, không gây ô nhiễm môi trường.
- Không đòi hỏi lao động nặng nhọc, người già trẻ em đều ó thể tham gia hiệu quả

* Nhược điểm của kỹ thuật thủy canh
- Vốn đầu tư ban đầu cao do chí phí về trang thiết bị. Tuy nhiên, chi phí này không phải là cao so với những chi phí phải trả để diệt sâu bệnh và côn trùng, thuê nhân công. Hơn nữa các máy móc thiết bị được tái sử dụng nhiều lần nên chỉ tốn chi phí đầu tư cho ban đàu.
- Đòi hỏi trình độ chuyên mộ kỹ thuật cao để sản xuất có hiệu quả. Điều này gây trở ngại cho việc đưa phương pháp thủy canh mở rộng đại trà.
- Trong quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng, thực vật làm thay đổi độ pH trong dung dịch thủy canh. Do đó, cần phải điều chỉnh pH mồi ngày. Giá trị pH tối thích từ khoảng 5.8 - 6.5. giá trị pH càng chênh lệch khỏi khoảng này thì mức độ ảnh hưởng không tốt lên hệ thống thủy canh càng lơn.
- Ngoài ra, những yếu tố thay đổi đột ngột môi trường cũng như việc cung cấp chất dinh dưỡng hay tưới nước không đúng có thể gây ra những triệu chứng rối loạn sinh lý ở cây (như hiện tượng thối quả cà chua, nứt quả cà chua).


6 siêu cây trồng biến đổi gen


Công nghệ cây trồng biến đổi gen không còn xa lạ nữa. Xin giới thiệu tới bạn đọc 6 loại siêu cây trồng ra đời từ công nghệ này.

1. Gạo vàng giàu vitamin A

Gạo vàng (Golden rice) là thực phẩm cây trồng chuyển gen (GM) được xếp đầu bảng, sản phẩm chống đói, tăng cường sức khỏe tốt nhất cho con người, đặc biệt là cung cấp vitamin A (beta-carotene) rất cần cho cơ thể trẻ nhỏ, hạn chế nguy cơ gây mù lòa bởi theo số liệu thống kê hiện nay trên thế giới mỗi năm có khoảng nửa triệu trẻ em mắc phải căn bệnh này, lý do chính là bị thiếu vitamin A.

Công nghệ sản xuất lúa vàng được khởi xướng từ năm 1999, nhưng do những bất đồng về chính trị nên mãi tới 10 năm sau nó mới được đưa ra trồng thử nghiệm tại Philipinnes nhờ cố gắng của Hội đồng nhân đạo về giống lúa vàng (GRHB), cơ quan này đã tiến hành phân tích và làm thông tư tưởng cho 6 quốc gia ở khu vực Đông Nam Á.

Giống lúa vàng được ra đời năm 1999 bằng cách được cài xen hai gen đảm nhận chức năng đóng mở, tạo ra giống lúa màu vàng, hạt giàu hàm lượng beta- carotene (tiền vitamin A) và màu sắc vàng của gạo chính là thể hiện mức độ giàu vitamin A.

2. Giống đu đủ kháng bệnh đốm vòng do virus

Xếp thứ 2 trong danh sách là giống đu đủ GM kháng được bệnh đốm vòng do virus có tên là PRSVV (Papaya ringspot virus) gây ra làm hại nhiều bộ phận khác nhau của đủ đủ, từ lá, quả, thân cho đến cuống lá.

Giống đu đủ GM này đã được trồng nhiều ở Tha Pra, Thái Lan, từ năm 2004 cho sản lượng cao, khỏe và được xem là sản phẩm rất có lợi cho sức khỏe con người và cho nông dân.




3. Lúa chịu hạn và lụt

Một trong những sản phẩm GM có khả năng giúp con người khắc phục nạn đói thiếu lương thực là loại lúa GM chịu được hạn hán, lũ lụt có tên là SNORKEL1 và SNORKEL2. Đây là những giống lúa mới do các nhà khoa học Nhật Bản tạo ra có năng suất cao thân cao rất phù hợp ở những chân ruộng thường xuyên bị úng lụt như Thái Lan và Campuchia.

Để tạo ra giống lúa này các nhà khoa học đã tìm ra cặp gen có tên là SNORKEL giúp cho cây trồng phát triển nhanh khi sống trong môi trường nước nhiều giúp lá phát triển trên mặt nước. Mỗi khi nước dâng cao, lúa lại tích lũy hormone ethylene hormone này đến lượt nó kích hoạt các gen SNORKEL làm cho thân lúa phát triển nhanh và cứng cáp hơn.

4. Cà chua giàu chất chống ôxi hóa

Các chuyên gia Trung tâm Nghiên cứu John Inne Centre ở Anh đã tạo ra một loại cà chua chuyển gen rất đặc biệt có hàm lượng anthocyanins rất cao, đây là chất chống ôxi hóa có tác dụng giảm được rất nhiều bệnh cho con người, trong đó có bệnh ung thư. Người ta coi đây là thực phẩm chữa bệnh và cũng là tiêu chí làm tăng giá trị kinh tế cho sản phẩm nông nghiệp bởi giàu chất chống ôxi giống có trong các loại quả mọng như dâu tây, mâm xôi, nho…

Để tạo ra giống cà chua này các nhà khoa học đã sử dụng các gen có trong loài hoa của cây kim ngũ thảo (Snapdragon) cài xen vào hệ gen của cây cà chua. Qua thử nghiệm trên chuột cho thấy những con chuột được ăn khoảng 10% bột của loại cà chua này có tuổi thọ cao hơn so với những con chuột ăn các loại cà chua thông thường. Ngoài tác dụng chữa bệnh giống cà chua nói trên còn được xem là sản phẩm “cứu cánh” cho người nông dân trong bối cảnh an ninh lương thực bị khủng hoảng, đặc biệt nó có sức đề kháng tốt, chịu được sâu bệnh và cho năng suất cao hơn hẳn so với cà chua truyền thống.

5. Ngô chuyển gen giàu dưỡng chất

Ngô được xem là sản phẩm chủ đạo của công nghệ chuyển gen, nó không chỉ cho năng suất cao, chịu được sâu bệnh mà còn có hàm lượng dưỡng chất hữu ích cho người tiêu dùng. Để tạo được giống ngô GM giàu dưỡng chất, các nhà khoa học đã cài xen vào ngô 7 gen, tạo ra tới 4 loại vitamin khác nhau.

Có hàm lượng vitamin C cao gấp 6 lần và vitamin C, E gấp 3 lần so với ngô truyền thống. Giống ngô mới này hiện đang được các chuyên gia ở ĐH Lleida của Tây Ban Nha trồng thử nghiệm và dự kiến sẽ có mặt trên thị trường trong tương lai gần.

6. Chuối chuyển gen chống suy dinh dưỡng

Xếp thứ 6 trong danh sách là chuối chuyển gen, sản phẩm rất phổ biến ở các quốc gia châu Phi, đặc biệt là Uganda nơi được coi là thực phẩm chủ đạo, trung bình mỗi người dân Uganda ăn tới 1 kg chuối/ ngày. Mặt trái của loại chuối khi dùng làm thực phẩm là thiếu hụt sắt và vitamin A nên nhiều người dân ở đây bị suy dinh dưỡng.

Để hạn chế tình trạng này các chuyên gia ở ĐH Bách khoa Queenland (Australia) đã lai tạo cho ra đời giống chuối chuyển gen có tên là Cavendish Banana, có hàm lượng sắt và beta carotene cao. Giống chuối mới này hiện đang được trồng thử nghiệm tại Australia và sẽ đưa sang trồng tại Uganda vào cuối năm 2011.


Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

8 giống lúa mới thích nghi với biến đổi khí hậu


Viện lúa ĐBSCL vừa lai tạo thành công những giống lúa mới có khả năng thích nghi biến đổi khí hậu. Đó là 8 giống lúa có khả năng chống chịu hạn, phèn mặn:



  1. Giống lúa OM5464: Tổ hợp lai OM3432/OM2490; thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, chiều cao cây 102-104cm; trọng lượng 1.000 hạt: 25,1 gam. Hạt dài 7mm, gạo đẹp, cơm cứng, Amylose 28,6%, năng suất 6-7 tấn/ha; hơi kháng rầy nâu (cấp 3) hơi kháng đạo ôn (cấp 3-5); ít nhiễm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá (VL-LXL); thích nghi vùng phèn, mặn; chống chịu được hạn diện rộng.
  2. Giống lúa OM8923: Tổ hợp lai NCM/OM4059; thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, chiều cao cây 102-107cm; trọng lượng hạt: 25,9 gam. Hạt dài 7mm, gạo đẹp, mềm cơm, Amylose 23%; năng suất 7-8 tấn/ha; hơi kháng rầy nâu (cấp 5), hơi kháng đạo ôn (cấp 3), ít nhiễm bệnh VL-LXL; thích nghi vùng phèn mặn.
  3. Giống lúa OM6677: Tổ hợp lai M22/AS996; thời gian sinh trưởng 90-95 ngày, chiều cao cây 107-116 cm; trọng lượng 1.000 hạt: 27gam. Hạt dài 7mm, gạo đẹp mềm cơm, Amylose 24,8%; năng suất 6-7 tấn/ha; hơi kháng rầy nâu (cấp 5), hơi kháng đạo ôn (cấp 5); ít nhiễm bệnh VL-LXL; thích nghi vùng phèn mặn.
  4. Giống lúa OM6377: Tổ hợp lai IR64/Type3-123; thời gain sinh trưởng 90-95 ngày, chiều cao cây 107-115cm; trọng lượng 1.000 hạt: 31 gam. Hạt dài 7mm, gạo trung bình, Amylose 25,7%, năng suất 6-7 tấn/ha; hơi kháng rầy nâu, hơi kháng đạo ôn (cấp 3); ít nhiễm bệnh VL-LXL, thích nghi với vùng phèn mặn.
  5. Giống lúa OM6976: Tổ hợp lai IR68114/OM997/OM2718//OM2886; thời gian sinh trưởng 95-100 ngày, chiều cao cây 100-104cm; trọng lượng 1.000hạt: 29,5 gam. Hạt dài 7mm, gạo đẹp, mềm cơm, Amylose 24,1%, năng suất 7-8 tấn/ha; hơi kháng rầy nâu (cấp 3-5), hơi nhiễm đạo ôn (cấp 5); ít nhiễm bệnh VL-LXL, thích nghi vùng phèn mặn.
  6. Giống lúa OM5981: Tổ hợp lai IR28/AS996; thời gian sinh trưởng 95-98 ngày, chiều cao cây 100-103cm; trọng lượng 1.000 hạt: 27,5 gam. Hạt dài 7mm, gạo đẹp, mềm cơm, Amylose 24,8%, năng suất 5-7 tấn/ha; hơi kháng rầy nâu (cấp 3), hơi kháng đạo ôn (cấp 5), ít nhiễm bệnh VL-LXL, thích nghi vùng phèn mặn.
  7. Giống lúa OM6904: Tổ hợp lai OM5464/OM5472; thời gian sinh trưởng 85-90 ngày, chiều cao cây 94-99cm; trọng lượng 1.000 hạt: 27 gam. Hạt dài 7mm, năng suất 6-7 tấn/ha; hơi kháng rầy nâu, hơi kháng đạo ôn; ít nhiễm bệnh VL-LXL; thích nghi vùng phèn mặn.
  8. Giống lúa OM6932: Tổ hợp lai OM 4088/OM 5472; thời gian sinh trưởng 90 ngày; chiều cao cây 100-108cm; trọng lượng 1.000 hạt 28 gam. Hạt dài 7mm, năng suất 6-7 tấn/ha; hơi kháng rầy nâu (cấp 5), hơi nhiễm đạo ôn (cấp 5); ít nhiễm bệnh VL-LXL; thích nghi vùng phèn mặn.

Theo báo Nông nghiệp

Xen ghép lúa chịu mặn, cá nước ngọt


Phòng NN-PTNT huyện Hương Trà, TT – Huế cho biết, Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) thuộc Tổ chức Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Trung tâm Nghiên cứu và Tư vấn Quản lý Tài nguyên (CORENARM) đã phối hợp với đơn vị triển khai dự án “Xây dựng mô hình cộng đồng thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua bảo tồn, khai thác và sử dụng bền vững, tổng hợp tài nguyên thiên nhiên xã Hương Phong”.

Qua đó, dự án triển khai phục tráng giống lúa chịu mặn, mô hình nuôi thủy sản xen ghép, mô hình trồng lúa và nuôi cá, chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật… tại thôn Thuận Hoà. Kết hợp nuôi tôm sú, cua và cá đối mục trên diện tích 2 ha, với 4 hộ dân tham gia. Ngoài ra, hỗ trợ tập huấn kỹ thuật, chuyên gia tư vấn cho 20 hộ dân trong thôn.

Mỗi hộ nuôi được hỗ trợ chi phí giống, thức ăn; đối với hộ nuôi tôm được hỗ trợ 40%, mô hình nuôi cua, cá là 30% và hỗ trợ kinh phí thức ăn cho tôm và cua lần lượt là 30% và 20%. Phần chi phí thức ăn, giống còn lại do các hộ tham gia mô hình đóng góp. Các hộ tham gia mô hình còn đóng góp 100% chi phí cải tạo ao, vôi làm sạch môi trường, nhiên liệu, công chăm sóc và theo dõi sinh trưởng.

Sau 5 tháng thả nuôi, tỷ lệ sống đối với tôm sú là 55%, cá đối mục 50% và cua 60%. Trọng lượng trung bình, tôm sú đạt 38 con/kg, cua là 0,28 kg/con và cá đối là 0,25 kg/con đạt 95% so với yêu cầu đặt ra.

Ông Nguyễn Lương, ở thôn Thuận Hòa tham gia mô hình cho biết, gia đình tham gia thả nuôi trên diện tích 6.000m2, vừa trồng lúa và xen ghép với tôm, cua, cá. Sau vụ thu hoạch trừ lúa, mô hình cho lãi ròng trên 30 triệu đồng. Nuôi theo mô hình của dự án thì tỉ lệ tôm, cá, cua chết rất thấp dưới 5% và không bị bệnh, so với hộ nuôi thâm canh lại bị chết rất nhiều.

Qua mô hình cho thấy, cá đối mục phù hợp với điều kiện khí hậu thời tiết, ao hồ địa phương và nuôi xen ghép với tôm sú – cua đã giảm rủi ro cho các hộ nuôi, tạo thêm thu nhập ổn định. Dự án tiếp tục thử nghiệm các hộ nuôi tương tự và mở rộng thêm đối tượng nuôi xen ghép khác, như cá dìa, kình… với quy mô 4ha. Dự án sẽ tiếp tục thí điểm tại xã Hương Phong, huyện Hương Trà đến tháng 4/2012.


Granit 2 Mica, phức hệ Pia Oắc, Nghệ An

Tên khoa học: Granit 2 Mica
Địa điểm lấy mẫu: Phức hệ Pia Oắc, Nghệ An
Hình ảnh:




Granit 2 Mica hạt nhỏ, phức hệ Pò Sèn, Lào Cai

Tên khoa học: Granit 2 Mica hạt nhỏ
Địa điểm lấy mẫu: Phức hệ Pò Sèn, Lào Cai
Hình ảnh:





Granit Biqtit hạt nhỏ, phức hệ Bà Nà, Đà Nẵng

Tên khoa học: Granit Biqtit hạt nhỏ
Địa điểm lấy mẫu: Phức hệ Bà Nà, Đà Nẵng
Hình ảnh:






Bảo tàng đất Việt Nam và Bộ môn Phát sinh học


Chặng đường phát triển của Bảo tàng đất gắn liền với sự phát triển của Bộ môn Phát sinh học và Phân loại đất. Nhiều thế hệ các nhà khoa học đã từng lặn lội trên khắp vùng miền của cả nước để thực hiện công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu và thu thập các mẫu đất đá, thành lập bản đồ đất Việt Nam và từng bước xây dựng bảo tàng đất như ngày nay.

Khi nhắc đến bảo tàng đất Việt Nam, cần phải nhìn nhận những đóng góp to lớn của tập thể cán bộ thuộc bộ môn Phát sinh học và Phân loại đất, cùng rất nhiều các nhà khoa học đến từ nhiều bộ môn khác nhau thuộc Viện Thổ nhưỡng Nông hóa. Có thể nói, lịch sử phát triển của bảo tàng đất chính là một phần lịch sử phát triển và hoạt động của bộ môn.

Bộ môn Phát sinh học và Phân loại đất
Department of Soil Genesis and Classification
Tel: 04.37520209/38362381; Fax: 04.38389924; Email: solgen@hn.vnn.vn



1. Lịch sử hình thành
- Từ 1973 - 1979: Bộ môn Địa lý Thổ nhưỡng
- Từ 1979 - 1998: Bộ môn Phát sinh học đất
- Từ 1998 - 2005: Phòng Nghiên cứu Phát sinh học và Phân loại đất
- Từ 2005: Bộ môn Phát sinh học và Phân loại đất

2. Chức năng và nhiệm vụ

Chức năng: Là đơn vị nghiên cứu khoa học về lĩnh vực phát sinh học, phân loại và xây dựng bản đồ đất.

Nhiệm vụ:
+ Nghiên cứu quá trình phát sinh, hình thành và phát triển của các loại đất; các quá trình thổ nhưỡng chủ đạo trong điều kiện nhiệt đới ẩm Việt Nam.
+ Nghiên cứu, xây dựng quy trình kỹ thuật về điều tra, phân loại đất, đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất đai.
+ Nghiên cứu xây dựng các loại bản đồ về đất.
+ Xây dựng trung tâm thông tin và tư liệu đất Việt Nam.
+ Đào tạo cán bộ chuyên ngành về lĩnh vực phát sinh học, phân loại, lập bản đồ đất và quy hoạch sử dụng đất đai.
+ Hợp tác quốc tế về lĩnh vực phát sinh học, phân loại, lập bản đồ đất và quy hoạch sử dụng đất đai.
+ Quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, trang thiết bị, kinh phí được giao theo quy định của pháp luật.

3. Thành tựu chính
- Tham gia điều tra, biên tập bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/1.000.000 (Giải thưởng Nhà nước năm 1990; Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2000), bản đồ đất Miền Bắc Việt Nam tỷ lệ 1/500.000
- Tham gia Chương trình Atlas Quốc gia xây dựng Bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/2.000.000 (Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005)
- Tham gia Chương trình điều tra Tây Nguyên I và II; đánh giá mức độ thích hợp của đất Tây Nguyên cho các cây: cà phê, chè, cao su và dâu tằm
- Điều tra cơ bản và cải tạo đất Đồng bằng sông Cửu Long; Chương trình thâm canh lúa Đồng bằng sông Cửu Long
- Xây dựng hệ phân loại đất Việt Nam áp dụng cho việc lập bản đồ đất tỷ lệ trung bình và lớn
- Xây dựng Trung tâm Thông tin Tư liệu Đất Việt Nam
- NC quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp theo phương pháp phân tích hệ thống áp dụng cho địa bàn cấp huyện
- Quy hoạch sử dụng đất theo hướng sản xuất nông nghiệp bền vững cho các tỉnh Hà Nam, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Ninh, Hà Giang, Điện Biên
- Đánh giá xây dựng bản đồ đất và phân vùng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp cho một số huyện, tỉnh của CHDCND Lào
- Xác lập Chỉ dẫn Địa lý cho cây trồng đặc sản: Bưởi Đoan Hùng; Cam Vinh; Vải Lục Ngạn; Quế Văn Yên; Cói Nga Sơn; Xoài Yên Châu; Tiêu Quảng Trị; Sâm Ngọc Linh
- Xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu về vi hình thái và khoáng sét cho: đất cát biển, đất xám, đất phù sa, đất mặn, đất phèn, đất feralít đỏ vàng
- Nghiên cứu quy trình xây dựng bản đồ sử dụng phân bón đạt hiệu quả cao quy mô cấp huyện

4. Thành tích khen thưởng
- 01 Huân chương Lao động Hạng Ba (2006)
- 01 Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2003)
- 04 Bằng khen của Bộ trưởng Nông nghiệp và PTNT (2002, 2003, 2004, 2007)
- 03 Bằng khen của BCH Công đoàn Nông nghiệp và PTNT (2004, 2005, 2009)
- 01 Bằng khen của UBND Tỉnh Yên Bái (2002)
- 01 Bằng khen của UBND Tỉnh Hà Nam (2002)
- 01 Bằng khen của Huyện Nambak, Tỉnh Luang Prabang, CHDCND Lào (2002)
- 01 Giấy khen của Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (2008)


Bảo tàng trực tuyến đã đi vào hoạt động

Sau nhiều nỗ lực thực hiện, nhóm chuyên gia phụ trách Bảo tàng đất Việt Nam thuộc Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã chính thức đưa bảo tàng đất trực tuyến vào hoạt động. Bảo tàng trực tuyến giới thiệu hơn 60 mẫu phẫu diện và trên 50 mẫu khoáng vật từ nhiều vùng khác nhau trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Khách tham quan có thể tham khảo hình ảnh và thông tin về các loại đất chính của Việt Nam. Bên cạnh đó, nhiều thông tin khác có liên quan đến tài nguyên đất như phân bón, cây trồng, các kỹ thuật canh tác, phân tích đất, các công trình nghiên cứu khoa học đất cũng được đăng tải nhằm mang đến cho người xem những thông tin hữu ích.

Bảo tàng trực tuyến sẽ là một công cụ đắc lực phục vụ công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy tại các trường đại học, trung học; nguồn thông tin cho các nghiên cứu viên, các nhà khoa học, đóng góp thông tin vào nhiều công trình nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển nền nông nghiệp Việt Nam.

Tu bổ và nâng cấp bảo tàng

Hoạt động tu bổ và nâng cấp Bảo tàng đất Việt Nam được nhóm chuyên gia của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tiến hành thường kỳ hàng năm. Trong thời gian từ tháng 10-11 năm 2011, Bảo tàng đã được bảo dưỡng và bổ sung thêm thông tin từ các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong Viện nhằm gìn giữ các tài liệu quý giá về tài nguyên đất Việt Nam, đồng thời cung cấp cho khách tham quan thêm những thông tin mới.

Bên cạnh việc bảo dưỡng các mẫu đất và khoáng vật, nhóm chuyên gia liên tục cập nhật trang web của bảo tàng nhằm giới thiệu với bạn đọc ở xa những thông tin về đất, khoáng vật, các kỹ thuật khoa học đất cơ bản, cây trồng và nhiều công trình nghiên cứu mới trong nước.

Sau quá trình bảo dưỡng và nâng cấp bảo tàng, Bảo tàng đất Việt Nam tiếp tục mở cửa đón khách tham quan từ đầu tháng 12/2011.


Granit sáng màu, phức hệ Pia Oắc, Thái Nguyên

Tên khoa học: Granit sáng màu
Địa điểm lấy mẫu: Phức hệ Pia Oắc, Thái Nguyên
Hình ảnh:


Granit hạt thô, phức hệ Vân Canh, Bình Định

Tên khoa học: Granit hạt thô
Địa điểm lấy mẫu: Phức hệ Vân Canh, Bình Định
Hình ảnh:




Pegmatit, hệ tầng Thạch Khoán, Phú Thọ

Tên khoa học: Pegmatit
Địa điểm lấy mẫu: Hệ tầng Thạch Khoán, Phú Thọ
Hình ảnh:




Kaolin, hệ tầng Thạch Khoán, Phú Thọ

Tên khoa học: Kaolin
Địa điểm lấy mẫu: Hệ tầng Thạch Khoán, Phú Thọ
Hình ảnh:




Kaolin, Yên Bái

Tên khoa học: Kaolin
Địa điểm lấy mẫu: Yên Bái
Hình ảnh:



Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu với Việt Nam

Đại diện từ gần 200 quốc gia đã tụ hội về Durban, Nam Phi, dự Hội nghị Liên Hiệp Quốc (LHQ) về biến đối khí hậu, kéo dài 12 ngày bắt đầu từ thứ Hai, 28/11.

Trong bản phúc trình đưa ra ngay khi các cuộc hội đàm của LHQ bắt đầu, tổ chức từ thiện Oxfam cho biết tình trạng khí hậu khắc nghiệt đã dẫn tới tình trạng giá thực phẩm tăng cao khiến hàng chục triệu người bị đẩy vào tình trạng nghèo đói trong hơn 18 tháng qua
Hồi tháng 2, Ngân hàng Thế giới 44 triệu người tại các nước đang phát triển đã bị rơi vào tình trạng nghèo đói khốn cùng do kết quả của giá lương thực tăng cao. Mưa bão tại Đông Nam Á cũng đẩy giá gạo tại Thái Lan và Việt Nam lên cao. Vào tháng Chín và tháng Mười, giá gạo cao hơn so với năm ngoái 25-30%.
Trong cuộc phỏng vấn với BBC Việt Ngữ, bà Lê Nguyệt Minh, thuộc Oxfam Việt Nam, cho biết biến đổi khí hậu đã có tác động đến việc sản xuất, đến lưu thông và nguồn cung ứng của thị trường, và tình trạng khí hậu khắc nghiệt có ảnh hưởng đến mùa màng, gây tâm lý không tốt cho người tiêu dùng.
Tuy nhiên vấn đề quan trọng là bản thân chính phủ các nước đã tác động đến vấn đề lưu thông hàng hóa và trấn an tâm lý của người tiêu dùng như thế nào, chứ biến đổi khí hậu không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn tới gia tăng giá lương thực.
Khó khăn
Theo Oxfam Việt Nam, Việt Nam trong thời gian qua đã có rất nhiều nỗ lực trong việc nâng cao nhận thức của người dân, đưa vấn đề biến đổi khí hậu vào các hoạt động hàng ngày , tuy nhiên một trong những khó khăn hiện này là cần đặt đúng trọng tâm, bà Lê Nguyệt Minh giải thích.
"Nếu không đặt đúng trọng tâm thì các nỗ lực sẽ chỉ như thêm vào chứ không thực sự tập trung nguồn lực vào giải quyết những vấn đề cơ bản nhất, mà thay vào đấy chính phủ hay chính quyền địa phương lại coi là đây là một cơ hội có thêm tiền để chúng tôi làm các dự án khác và như thế sẽ là một sai lầm."
"Như thế sẽ không có được tiếng nói của cộng đồng, không chuẩn bị được cho cộng đồng tham gia vào và như thế lại là phản tác dụng. Và như vậy có bao nhiêu nguồn tiền đem vào từ bên ngoài đi chăng nữa thì cũng sẽ không thể đem lại hiệu quả," bà Lê Nguyệt Minh nói thêm.
Theo Tiến sĩ Lê Anh Tuấn, thuộc khoa Quản lý Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên của trường Đại học Cần Thơ, Việt Nam là trong số những nước chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu.
Đó là vì Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu nhiều ảnh hưởng của bão tố.
Tuy vậy, đang có những hoạt động nâng cao nhận thức của cộng đồng về tác động của biến đổi khí hậu.
Cũng có những nỗ lực đầu tư kinh phí từ phía chính phủ và các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam trong thời gian qua để đương đầu với những thách thức này.
Ngoài khó khăn vì tính chất khó lường của biến đổi khí hậu, tức những yếu tố tự nhiên, thì "còn có những tác động của con người mà nhiều khi vượt ra ngoài tầm kiểm soát của mình như sự hình thành của con đập ở trên sông Mekong," ông Lê Anh Tuấn nói thêm.
"Những sự vận hành đó rất khó có thể tiên đoán được và những rủi ro sẽ là như thế nào. Đó là những thử thách mà người dân đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu nhận thức được và sẽ phải giải quyết," ông Tuấn nói.
Một trong những mục tiêu của Hội nghị LHQ về Biến đổi khí hậu tại Durban, Nam Phi, lần này là cắt giảm khí thải nhà kính và kích hoạt một ngân sách dự trù giúp các nước nghèo.
"Ngân sách Khí hậu Xanh" sẽ cung cấp tới 100 tỷ đô la Mỹ mỗi năm từ này tới năm 2020 cho các nước có nhiều khả năng bị ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu.

Nguồn : bbc.co.uk

Đánh giá ô nhiễm và biến đổi DDT trong đất tại Hà nội



Tóm tắt

Một số chất hữu cơ ô nhiễm khó phân huỷ (DDT, DDE, DDD) được lựa chọn để phân tích trong các mẫu đất tại Hà Nội. Địa điểm lấy mẫu được lấy ngẫu nhiên và đại diện cho khu vực nghiên cứu. Kết quả thu được cho thấy, nồng độ của DDT tổng nằm trong khoảng từ nhỏ hơn giới hạn phát hiện (ND) đến 171,83 ng/g khối lượng khô. Phân tích về thành phần phần trăm của DDT và các sản phẩm biến đổi của DDT cho thấy, ít có nguồn ô nhiễm bổ sung vào đất trong thời gian gần đây. Nồng độ DDT tổng có xu hướng giảm trong thời gian từ năm 1992 đến năm 2006.
Từ khoá: Ô nhiễm, DDT, đất, xu hướng.

I. Đặt vấn đề
Trong số các chất gây ảnh hưởng đến môi trường, các chất hữu cơ ô nhiễm khó phân huỷ (POP) hiện đang nhận được sự quan tâm, nghiên cứu sâu rộng của cộng đồng khoa học trên toàn thế giới. Theo Tổ chức Y tế thế giới, các chất này có khả năng gây ung thư và hàng loạt ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh, hệ miễn dịch và hệ nội tiết của con người. Chúng có thể tích tụ trong nhiều thành phần của môi trường (đất, nước, không khí, thực vật) và phát tán ở khoảng cách xa so với nguồn thải. Để bảo vệ sức khoẻ con người và chất lượng môi trường, nhiều quốc gia trên thế giới đã tham gia công ước Stockholm, một công ước toàn cầu nhằm hạn chế và tiến tới loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của POP.

Việt Nam, cũng như nhiều nước khác, đang tồn tại các vấn đề về ô nhiễm bởi một số hóa chất bảo vệ thực vật thuộc nhóm POP, điển hình là Diclorodiphenyl tricloroetan (DDT). DDT đã từng được sử dụng ở Việt Nam với khối lượng lớn, chủ yếu dùng làm thuốc trừ sâu và thuốc diệt muỗi. Theo kết quả từ dự án điều tra của Trung tâm công nghệ xử lý môi trường, thuộc Bộ Tư lệnh Hoá học, kiểm kê ban đầu về tổng lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng, quá hạn cần tiêu huỷ hiện nay trên phạm vi toàn quốc là khoảng 300 tấn, trong đó có khoảng 10 tấn DDT.

Trong các tỉnh thành của Việt Nam, Hà Nội là trung tâm về các hoạt động công nghiệp và đô thị, đồng thời cũng tập trung nhiều vùng nông nghiệp ở năm huyện ngoại thành. Nghiên cứu tại Hà Nội của Vũ Đức Thảo và các cộng sự năm 1992, đã phát hiện có sự tồn dư ở hàm lượng đáng kể trong đất của DDT và các chất biến đổi từ DDT (DDE và DDD). DDE (1,1-diclo-2,2-bis (4-clophenyl) eten) và DDD (1,1-diclo-2,2-bis (4-clophenyl) etan) là các sản phẩm biến đổi có khả năng độc hơn và thường đi kèm với DDT trong các thành phần của môi trường. Bởi vậy, sinh vật sống thường bị nhiễm độc đồng thời các chất trên. Mỗi chất lại có 3 đồng phân do vị trí khác nhau của nguyên tử Cl trong công thức cấu tạo, trong đó các đồng phân phổ biến nhất là p,p’-DDT, p,p’-DDE và p,p’-DDD. Bài báo này giới thiệu kết quả nghiên cứu của chúng tôi vào năm 2006 về các chất trên tại Hà Nội nhằm đánh giá tình hình ô nhiễm tại thời điểm hiện tại, đồng thời so sánh với các nghiên cứu trong quá khứ, từ đó đánh giá xu hướng biển đổi của chúng theo thời gian.

II. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp lấy mẫu
Các mẫu đất được lấy vào tháng 2 năm 2006, gồm 60 mẫu tại các xã và thị trấn, thuộc 5 huyện ngoại thành Sóc Sơn, Đông Anh, Gia Lâm, Từ Liêm, Thành Trì và nội thành Hà Nội. Đây là các khu vực đại diện của Hà Nội. Các mẫu được lấy xung quanh những khu vực nông nghiệp đồng thời được lấy ngẫu nhiên tại các khu vực có hoạt động đô thị và hoạt động công nghiệp nhằm có cái nhìn tổng quát về mức độ tồn lưu chất nghiên cứu. Các mẫu đất được lấy, bảo quản, vận chuyển và xử lý sơ bộ trong phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) gồm TCVN 4046 - 85 (phương pháp lấy mẫu đất trong khu vực nông nghiệp), TCVN 4047 - 85 (đất trồng trọt - phương pháp chuẩn bị đất để phân tích), TCVN 5297 – 1995 (chất lượng đất - cách lấy mẫu - các yêu cầu chung), TCVN 6857 - 2001 (chất lượng đất - phương pháp đơn giản để mô tả đất) và tiêu chuẩn của Hiệp hội tiêu chuẩn quốc tế (ISO 10381-5:2005: chất lượng đất – lấy mẫu – phần 5. Hướng dẫn trình tự khảo sát sự ô nhiễm đất ở các khu đất đô thị và công nghiệp).
Tại mỗi địa điểm, mẫu đất được lấy đều là mẫu trộn gồm năm mẫu thành phần, trong đó bốn mẫu được lấy tại bốn góc của một hình vuông (10 x 10 m2) và mẫu còn lại được lấy ở giao điểm của hai đường chéo. Độ sâu lấy mẫu là 5 cm đất bề mặt. Các mẫu đất được trộn đều, phơi khô ở nhiệt độ phòng rồi cho qua rây có cỡ lỗ 1 mm. Mẫu đất sau khi xử lý sơ bộ được bảo quản ở 4oC. Các mẫu được vận chuyển và phân tích tại phòng thí nghiệm của khoa Hoá, trường đại học Khoa học ứng dụng Basel, Thuỵ Sỹ vào đầu tháng 3 năm 2006.

b. Phương pháp phân tích
Chất nghiên cứu được phân tích theo phương pháp của Tanabe và các cộng sự thuộc Trường đại học Ehime, Nhật Bản. Phương pháp phân tích sử dụng đã được công bố và áp dụng trên nhiều công trình và tạp chí có uy tín quốc tế. Các hoá chất sử dụng đều thuộc loại tinh khiết phân tích và được mua từ công ty Fluka của Thuỵ Sỹ.

Việc xác định hàm lượng chất nghiên cứu được thực hiện trên thiết bị sắc ký khí (ký hiệu Varian Star 3400Cx) kết nối khối phổ (ký hiệu Varian Saturn 2000) có trang bị bộ bơm mẫu tự động (ký hiệu Varian 8200Cx). Cột sắc ký mao quản sử dụng, ký hiệu SPB-5 (5% Phenyl/95% Dimethyl Polysiloxan), có chiều dài 30 m, đường kính trong 0,32 mm và chiều dầy lớp màng là 0,25 mm. Chất chuẩn chứa các chất p,p’-DDT p,p’-DDE và p,p’-DDD với nồng độ 200 ng/ml được mua từ công ty Supelco của Đức.

Hàm lượng của chất nghiên cứu trong đất được xác định theo phương pháp chuẩn ngoại, sử dụng diện tích pic sắc ký để tính toán. Đường chuẩn gồm sáu điểm với mỗi chất phân tích được xây dựng bằng cách sử dụng các dung dịch pha loãng từ dung dịch chuẩn và đều có hệ số tuyến tính lớn hơn 0,99. Hàm lượng DDT tổng là tổng hàm lượng của p,p’-DDE, p,p’-DDD và p,p’-DDT.

Hiệu suất thu hồi được xác định bằng các mẫu thêm, chuẩn bị theo phương pháp đã công bố của Mehmet Emin Aydin và các cộng sự năm 2006. Chất chuẩn của p,p′-DDE, p,p′-DDD và p,p′-DDT, được đưa vào mẫu thêm để đạt hàm lượng 40 ng/g cho mỗi chất. Hiệu suất thu hồi của các chất trên từ việc phân tích mẫu thêm cho kết quả trong khoảng từ 80% đến 98%. Giới hạn phát hiện của phương pháp là 0,02 ng/g khối lượng khô với p,p′-DDT, p,p′-DDD và p,p′-DDE. Một mẫu trắng được phân tích với mỗi loạt năm mẫu đất và đều không phát hiện thấy chất nghiên cứu. Các tính toán hàm lượng của chất nghiên cứu không qui đổi về hiệu suất thu hồi. Số mẫu lặp được phân tích bằng 10% số mẫu đất và độ lệch chuẩn của các mẫu lặp đều nhỏ hơn 15%. Các hàm lượng tính toán được tính trên khối lượng khô của mẫu đất.

III. Kết quả nghiên cứu
a. Mức độ tồn lưu của DDT trong đất tại Hà Nội
Kết quả phân tích cho thấy,  DDT và các chất chuyển hoá từ DDT tồn lưu tại Hà Nội ở phạm vi rộng và được phát hiện ở 47 mẫu trên tổng số 60 mẫu. Tại khu vực nông nghiệp của Hà Nội, DDT tổng được tìm thấy ở hàm lượng cao. Hàm lượng DDT tổng nằm trong khoảng từ ND đến 171,83 ng/g. Giá trị trung bình của DDT tổng của các mẫu nông nghiệp (89,86 ± độ lệch chuẩn của tập mẫu 47,17 ng/g) thấp hơn không nhiều so với giá trị tối đa cho phép của DDT trong đất theo tiêu chuẩn TCVN 5941 – 1995 (nồng độ DDT < 100 ng/g). Tuy nhiên, vẫn có một số mẫu có DDT tổng vượt quá ngưỡng trên. Kết quả cho thấy trong 8 mẫu thuộc khu vực có hoạt động nông nghiệp của huyện Sóc Sơn, Từ Liêm và Thanh Trì, hàm lượng DDT tổng lần lượt là 161,84; 163,75; 102,25; 106,26; 162,76; 168,27, 164,38 và 171,83 ng/g. DDT từng được sử dụng làm thuốc trừ sâu và diệt muỗi tại Việt Nam với khối lượng lớn trước khi bị cấm vào năm 1994. Do vậy, nguyên nhân chính của tồn dư DDT trong đất là kết quả của việc sử dụng chất này từ những thập kỷ trước.

Tại các khu vực khác như khu công nghiệp, trung tâm của Hà Nội và các khu trung tâm của năm huyện ngoại thành, DDT tổng cũng được tìm thấy và nằm trong khoảng từ ND đến 67,82 ng/g (giá trị trung bình 21,22 ± độ lệch chuẩn của tập mẫu 22,67 ng/g). Nguyên nhân tồn lưu có thể do việc dùng DDT đã từng được dùng làm thuốc diệt muỗi trong khu vực dân cư. Hiện tại, thông tin về mật độ DDT đã sử dụng tại khu vực nghiên cứu chưa công bố trong báo cáo nào. Trong thời gian từ 1957 đến 1994, đã có 24.024 tấn thương phẩm DDT đã được dùng ở Việt Nam với mục đích diệt muỗi. Rõ ràng, đây là một nguồn ô nhiễm với khối lượng lớn và có khả năng đã được sử dụng tại các khu vực trung tâm của Việt Nam như Hà Nội.
So sánh với các vùng khác trên thế giới, hàm lượng DDT tổng trong các mẫu đất tại Hà Nội tương tự với hàm lượng DDT tổng trong các mẫu đất tại Thượng Hải (18 – 142 ng/g), nhỏ hơn tại Tasman, Niu Dilân (30 – 34.500 ng/g) hoặc tại Bắc Kinh (0,77 – 2.178 ng/g) và cao hơn so với Bang San Paulo, Brasil (0,12 – 11,01 ng/g).

Bên cạnh việc tồn lưu trong đất, theo thời gian, DDT cũng đã xâm nhập vào cơ thể người và các thành phần môi trường khác tại Hà Nội. Theo kết quả phân tích năm 1997 của Đặng Đức Nhận và các cộng sự, hàm lượng DDT tổng trong trầm tích tại các kênh trong khu vực trung tâm và các vùng ngoại ô của Hà Nội, nằm trong khoảng từ 7 đến 80 ng/g. Đến năm 2000, nghiên cứu của Đặng Đức Nhận và các cộng sự tiếp tục xác định được tổng hàm lượng POP trung bình trong các mẫu bùn ở Hà Nội vào mùa mưa là 583 ng/g và giảm đi một nửa vào mùa khô. Trong đó, hàm lượng DDT chiếm tới 62% tổng hàm lượng POP trung bình. Nguồn ô nhiễm DDT được Đặng Đức Nhận và các cộng sự giải thích bắt nguồn từ các chất tẩy trùng đang sử dụng, thông qua việc hàm lượng DDT tổng phát hiện tại bệnh viện hoặc các khu vực dân cư trong nội thành Hà Nội là khá cao. Vào mùa mưa năm 2000, hàm lượng trung bình của DDT tổng của các mẫu bùn lấy từ kênh rạch gần khu bệnh viện Bạch Mai và Đại La có giá trị 1.300 ng/g.

Nghiên cứu khác của Đặng Quang Hưng và cộng sự năm 1999 [52] đã tìm thấy DDT tổng tại nước bề mặt của một số hồ và kênh trong nội thành Hà Nội. Hàm lượng trung bình của DDT tổng tại các điểm nghiên cứu là 31,7 ± 60,4 ng/l. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hùng Minh và các cộng sự năm 2001, DDT tổng cũng phát hiện thấy trong mẫu sữa của 42 người tại Hà Nội với giá trị hàm lượng trung bình là 2.100 ng/g. Các giá trị DDT đã công bố ở trên là cao và rất đáng lo ngại. Cùng với sự tồn lưu DDT tổng trong các mẫu đất đã phân tích, các số liệu trên đã nhấn mạnh sự tồn lưu ở phạm vi rộng của chất nghiên cứu tại Hà Nội.

b. Sự biến đổi của DDT trong đất tại Hà Nội
DDT từng được sử dụng tại Việt Nam từ năm 1949 đến năm 1994. Sau đó chất này bị cấm sử dụng do các tác động đến con người và môi trường. Thông qua việc đánh giá thành phần phần trăm của DDT, DDD và DDE trong các mẫu đất có thể đưa ra các kết luận về sự biến đổi của DDT, thời gian xâm nhập vào đất cũng như điều kiện phân huỷ của chất này. Từ số liệu phân tích thu được, phần trăm trung bình của DDT và các chất chuyển hoá từ DDT so với DDT tổng trong 60 mẫu đất tại Hà Nội giảm dần theo trật tự: p,p’-DDE (54,4%) > p,p’-DDD (25,5%) > p,p’-DDT (20,1%).


Hình 1. Phần trăm trung bình của DDT, DDE và DDD trong mẫu đất ở Hà Nội

DDT có thể bị phân huỷ bởi vi sinh vật trong môi trường tạo thành DDD ở điều kiện yếm khí và tạo thành DDE ở điều kiện hiếu khí. Trong mùa khô ở miền Bắc Việt Nam, sự chuyển hoá ở điều kiện hiếu khí được thúc đẩy dẫn đến DDE được tạo thành nhiều hơn DDD, làm phần trăm trung bình của DDE lớn hơn. Một lý do khác xuất phát từ việc các mẫu được lấy đến độ sâu 5 cm bề mặt. Tại độ sâu này, hoạt động của vi sinh vật chủ yếu là từ vi sinh vật hiếu khí. Nghiên cứu của Ramesh và các cộng sự tại vùng khí hậu nhiệt đới của ấn Độ cũng có kết quả tương tự.

Trong các thương phẩm của DDT không có DDE. Mặt khác, phần trăm của p,p’-DDT nằm trong khoảng từ 65 đến 80% và phần trăm của p,p’-DDD lớn nhất là 4%, tuỳ theo nơi sản xuất DDT. Vì vậy, việc phần trăm trung bình của DDE và DDD lớn hơn so với DDT trong các mẫu đất đã phản ánh sự phân huỷ đáng kể của DDT theo thời gian.

Theo nghiên cứu của Jiang và các cộng sự, khi tỷ số hàm lượng (p,p’-DDE + p,p’-DDD)/DDT tổng tại địa điểm nghiên cứu lớn hơn 0,5 thì sự biến đổi của DDT dưới tác động của môi trường đã diễn ra đáng kể và ít có nguồn thải mới của DDT tại thời điểm khảo sát. Tỷ số hàm lượng (p,p’-DDE + p,p’-DDD)/DDT tổng của các mẫu đất tại Hà Nội nằm trong khoảng từ 0,75 đến 0,99 (trung bình 0,79). Do đó, có thể kết luận là ít có nguồn thải mới của DDT tại khu vực nghiên cứu. Nếu có nguồn DDT nhập lậu và được sử dụng tại Hà Nội thì cũng sẽ là không đáng kể và không ảnh hưởng lớn đến tồn dư của chất này trong đất.      

c. Xu hướng biến đổi lượng tồn dư của DDT trong đất tại Hà Nội
So sánh với kết quả về tồn dư DDT từ các nghiên cứu trong quá khứ, xu hướng biến đổi của các chất trên theo thời gian có thể được đánh giá. Theo nghiên cứu của Vũ Đức Thảo và các cộng sự, hàm lượng DDT trong đất tại Hà Nội các năm 1992 (4 mẫu đất), năm 1995 (8 mẫu đất), năm 1998 (8 mẫu đất) và năm 2001 (8 mẫu đất) lần lượt nằm trong khoảng từ 59,7 đến 970,6 ng/g (trung bình 268,27 ng/g), từ 159,7 đến 940,5 ng/g (trung bình 182,56 ng/g), từ 49,7 đến 870,5 ng/g (trung bình 120,36 ng/g) và từ 51,7 đến 850,5 ng/g (trung bình 103,23 ng/g). Theo nghiên cứu của chúng tôi năm 2006 (60 mẫu đất), DDT tổng nằm trong khoảng từ ND đến 171,83 ng/g (trung bình 56,68 ng/g). Rõ ràng, tồn dư của DDT tổng trong đất tại Hà Nội có xu hướng giảm theo thời gian từ năm 1992 đến năm 2006. Việc giảm hàm lượng của DDT trong đất là phù hợp với kết luận ít có nguồn thải bổ sung trong thời gian gần đây, thu được từ việc đánh giá thành phần phần trăm của DDT và các chất biến đổi (DDE và DDD) ở trên.


Hình 2. Xu hướng biến đổi của hàm lượng DDT tổng trong đất ở Hà Nội

Kết luận
Kết quả phân tích mẫu năm 2006 của chúng tôi đã cho thấy có sự tồn lưu ở phạm vi rộng của DDT và các chất biến đổi từ DDT (DDE và DDD) trong đất tại Hà Nội. Bên cạnh đó, kết quả xác định tỷ lệ các chất trên trong các mẫu đất biểu thị sự phân hủy của DDT đã diễn ra từ lâu và hàm lượng của DDT trong đất có xu hướng giảm trong khoảng thời gian từ năm 1992 đến năm 2006.

Như vậy, sự biến đổi của DDT trong đất tại Hà Nội đang diễn ra theo chiều hướng có lợi cho môi trường. Tuy nhiên, tồn dư của DDT trong đất vẫn ở mức độ đáng kể và việc tìm thấy chất nghiên cứu trong phần lớn các mẫu đất là rất đáng chú ý. Theo ý kiến của chúng tôi, nên có các phân tích xác định tồn dư của chúng trong các năm tiếp theo, đồng thời tiếp tục thực hiện các biện pháp quản lý nhằm ngăn ngừa các nguồn ô nhiễm DDT bổ sung vào môi trường.  

Tài liệu tham khảo
1.             Trung tâm công nghệ xử lý môi trường, Bộ Tư lệnh Hóa học (2005), “Dự án xử lý, tiêu huỷ lượng thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng, quá hạn sử dụng và cấm lưu hành ở Việt Nam”, Hà Nội
2.       Aydin, M.E., Tor, A., Ozcan, S., (2006), “Determination of selected polychlorinated biphenyls in soil by miniaturised ultrasonic solvent extraction and gas chromatography-mass-selective detection”, Anal Chim Acta 577, pp. 232-237.
3.       Gaw, S.K, Wilkins, A.L., Kim, N.D., Palmer, G.T., Robinson, P., (2006), “Trace element and ?DDT concentrations in horticultural soils from the Tasman, Waikato and Auckland regions of New Zealand”, Science of The Total Environment 355, pp. 31–47.
4.       Hung, D.Q., Thiemann, W., (2002), “Contamination by selected chlorinated pesticides in surface waters in Hanoi, Vietnam”, Chemosphere 47, pp. 357-367.
5.       International Organization for Standardization (ISO), (2005), Soil quality -- Sampling -- Part 5: Guidance on the procedure for the investigation of urban and industrial sites with regard to soil contamination (ISO 10381-5:2005).
6.       Jiang. G. –b., Yang, R. –q., Lv. A. –h., Shi. J. –b., (2005), “The levels and distribution of organochlorine pesticides (OCPs) in sediments from the Haihe River, China”, Chemosphere 61, pp. 347-354.
7.       Kannan, K., Battula, S., Loganathan, B.G., Hong, C.-S., Lam, W.H., Villeneuve, D.L., Sajwan, K., Giesy, J.P., Aldous, K.M., (2003), “Trace organic contaminants, including toxaphene and trifluralin, in cotton field soils from Georgia and South Carolina, USA”, Archives of Environmental Contamination and Toxicology 45, pp. 30–36.
8.       Kishimba, M.A., Henry, L., Mwevura, H., Mmochi, A.J., Mihale, M., Hellar, H., (2004), “The status of pesticide pollution in Tanzania”, Talanta 64, pp. 48–53.
9.       Minh, N.H, Someya, M., Minh, T.B., Kunisue, T., Iwata, H., Watanabe, M., Tanabe, S., Viet, P.H.,  Tuyen, B.C., (2004), “Persistent organochlorine residues in human breast milk from Hanoi and Ho Chi Minh City, Vietnam: contamination, accumulation kinetics and risk assessment for infants”, Environmental Pollution 129, pp. 431-441.
10.   Nakata, H., Hirakawa, Y., Kawazoe, M., Nakabo, T., Arizono, K., Abe, S.I., Kitano, T., Shimada, H., Watanabe, I., Li, W., Ding, X., (2005), “Concentrations and compositions of organochlorine contaminants in sediments, soils, crustaceans, fishes and birds collected from Lake Tai, Hangzhou Bay and Shanghai city region, China”, Environmental Pollution 133, pp. 415–429.
11.   Nhan, D.D, Carvalho, F.P., Am, N.M., Tuan, N.Q., Yen, N.T.H., Villeuneve, J.-P., Cattini, C., (2001), “Chlorinated pesticides and PCBs in sediments and molluscs from freshwater canals in the Hanoi region”, Environmental Pollution 112, pp. 311–320.
12.   Ramesh, A., Tanabe, S., Murase, H., Subramanian, A. N., Tatsukawa, R., (1991), “Distribution and behaviour of persistent organochlorine insecticides in paddy soil and sediments in the tropical environment: A case study in South India”, Environmental Pollution 74, pp. 293-307.
13.   Rissato, S.R., Galhiane, M.S., Ximenes, V.F., Rita M.B. de Andrade, Talamoni, J.L.B., Libanio, M., Marcos V. de Almeida, Apon, B.M., Cavalari, A.A., (2006), “Organochlorine pesticides and polychlorinated biphenyls in soil and water samples in the North-eastern part of Sao Paulo State, Brazil”, Chemosphere 65, pp. 1949-1958.
14.   Thao, V.D., Toan, V.D., (2005), “Time trend variation of Persistent Organochlorine residues in soils from Vietnam”, Regional Symposiums on Chemical Engineering, November Hanoi, Vietnam, pp. 351-360.
15.   Zhang, H., Lu, Y., Dawson, R.W., Shi, Y., Wang, T., (2005), “Classification and ordination of DDT and HCH in soil samples from the Guanting Reservoir, China”, Chemosphere 60, pp. 762–769.
16.   Zhu, Y., Liu, H., Xi, Z., Cheng, H., Xu, X., (2005), “Organochlorine pesticides (DDTs and HCHs) in soils from the outskirts of Beijing, China”, Chemosphere 60, pp. 770-778.
Contamination and temporal trend by DDT residue in surface soils in Ha Noi
Master Vũ Đức Toàn
Water Resources University, 175 Tay Son Street, Ha Noi, Viet Nam
e-mail: vuductoan 2001@yahoo.com toanvd@wru.vn
Di động: 0936027466
 Abstract
Selected persistent organic pollutants residues (DDT, DDE, DDD) were analysed in the surface soils of Ha Noi, Viet Nam. The sampling locations were chosen at random with an attempt to get them evenly distributed over selected region. Results show that SDDT concentrations ranged from not detected (ND) to 171,83 ng/g. Investigation of the ratio of DDT and its metabolites in the soil samples indicates that there is little recent input of DDT in the study area. The decreasing trends of SDDT levels during the period from 1992 to 2006 are observed.
Keywords: Contamination, DDT, soil, temporal trend.
(Nguồn: Tạp chí KHKT Thủy lợi và Môi trường số 22/2008)



Tài nguyên đất châu thổ Mê Kông – Nam Bộ: tiềm năng và hiểm họa


Trọng Thành, phỏng vấn GS Võ Tòng Xuân

Đặc điểm quan trọng của đồng bằng Cửu Long là phù sa tiếp tục được đưa từ thượng nguồn xuống các cửa sông. Phù sa đi từ Vân Nam – Trung Quốc, rồi qua Lào. Nhất là những lúc mưa to và bão tố, rừng trên Vân Nam, và đặc biệt là bên Lào và dọc theo Trường Sơn, phù sa chảy xuống rất nhiều. 

Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long không chỉ là « vựa lúa » của Việt Nam mà còn của cả khu vực, với lượng gạo xuất khẩu hàng đầu thế giới. Đất đồng bằng Cửu Long có những đặc điểm gì ? Các phương thức canh tác tại khu vực này thay đổi như thế nào trong thời gian gần đây ? Làm thế nào để khai thác đất hiệu quả nhất mà chất lượng của đất không bị suy giảm ?

Đời sống nhân loại từ bao đời nay gắn liền với đất. Các nguồn lương thực thực phẩm chủ yếu đến từ đất. Đất chỉ chiếm khoảng một phần ba diện tích bề mặt hành tinh của chúng ta, và diện tích đất trồng trọt được còn nhỏ hơn rất nhiều. So với toàn bộ khối lượng của hành tinh, mặt đất hết sức mỏng, từ vài centimét đến hàng chục mét, tùy theo từng khu vực. Tuy nhiên, chính trên cái nền « mỏng manh » ấy mà đời sống của con người và một bộ phận lớn sinh giới phát triển. Trong những thế kỷ công nghiệp hóa mãnh liệt vừa qua, ở rất nhiều nơi đất đã trở thành một tài nguyên được khai thác một cách triệt để, thậm chí bị vắt kiệt, bên cạnh đó có rất nhiều nguy cơ đe dọa diện tích và chất lượng của đất trồng và đất rừng. Một câu hỏi ngày càng được đặt ra khẩn thiết là : liệu với một diện tích hữu hạn, đất trên bề mặt địa cầu có đủ sức nuôi sống nổi 9 tỷ người trong tương lai hay không ?

Tạp chí Khoa học của chúng tôi hôm nay hướng cái nhìn về mảnh đất đồng bằng châu thổ sông Mê Kông, khu vực Cửu Long, Nam Bộ – Việt Nam, mảnh đất này không chỉ là « vựa lúa » của Việt Nam mà còn của cả khu vực, bởi lượng gạo xuất khẩu từ đây được coi là đứng hàng nhất nhì trên thế giới. Đất đồng bằng Cửu Long có những đặc điểm gì ? Các phương thức canh tác tại đây thay đổi như thế nào trong thời gian gần đây ? Và đặc biệt là vấn đề ngày càng được các nhà khoa học và những người làm nông quan tâm là : làm thế nào để có thể khai thác đất một cách hiệu quả nhất trong khi vẫn bảo vệ được chất lượng của đất.

Dưới đây là phân tích của Giáo sư Võ Tòng Xuân, nguyên hiệu trưởng trường Đại học An Giang, người đã có hàng chục năm gắn bó với cây lúa, với đất đai đồng bằng Cửu Long.

RFI : Xin thân chào giáo sư Võ Tòng Xuân. Trước hết, xin giáo sư cho thính giả biết về một số đặc đểm chính về của đất đai đồng bằng sông Cửu Long. Đồng bằng Cửu Long có những loại đất nào, đặc điểm và quá trình hình thành của chúng ra sao ?

Võ Tòng Xuân : Theo các nhà địa chất học, khoảng 10.000 năm trước, bờ biển nằm tuốt phía biên giới với Campuchia bây giờ. Đồng bằng sông Cửu Long đã trải qua hàng trăm đợt biển dâng, rồi biển lùi. Mỗi khi trải qua sự thay đổi của mực nước biển, thì chúng ta có một bờ biển mới. Giữa hai bờ biển, khi nó trở thành bờ biển cũ rồi, thì trở thành « giồng ». Xem trên hình ảnh vệ tinh, thì thấy hàng trăm giồng đất hình cung, song song với bờ biển hiện tại của mình hiện nay. Giữa hai giồng cát đó là đất phèn, ở trên là đất cát. Lài lài ra xa, thì mình có đất phù sa.

Có đất xám phù sa cổ nằm ngay sát với Campuchia hiện nay. Rồi, giữa các giồng cát là những dải đất phèn rất lớn. Dọc theo sông Cửu Long, chúng ta có đất phù sa. Nhưng chạy ra tới bờ biển, phù sa sông Cửu Long bị đẩy ra ngoài, rồi theo các dòng hải lưu trở vô, vì thế mình có đất phù sa nhiễm mặn. Cũng có những vùng trước kia, sú, vẹt, tràm, các loại thực vật tập trung rất nhiều, nhưng không có nhiều phù sa đổ lên, ở đây là đất than bùn. Đây là loại đất thứ năm rất là quan trọng của đồng bằng sông Cửu Long.

Đặc điểm quan trọng của đồng bằng Cửu Long là phù sa tiếp tục được đưa từ thượng nguồn xuống các cửa sông. Phù sa đi từ Vân Nam – Trung Quốc, rồi qua Lào. Nhất là những lúc mưa to và bão tố, rừng trên Vân Nam, và đặc biệt là bên Lào và dọc theo Trường Sơn, phù sa chảy xuống rất nhiều. Khi đi qua Campuchia rồi đến Việt Nam, thì dòng chảy phải đổi rất nhiều, do ảnh hưởng của lối sống của người dân. Chúng ta có rất nhiều cồn, đó thực ra là phù sa đóng đống lên đó. Cuối cùng các cồn này tiến ra cửa sông. Hiện nay, mình nói Cửu Long, tức 9 con rồng, nhưng thực sự chỉ còn 7 thôi, vì hai con sông đã bị lấp.

RFI : Thưa giáo sư, có thể nói là biến đổi của đồng bằng Cửu Long rất là mạnh, nhưng sự tồn tại của nó cũng tương đối mong manh, vì nó phụ thuộc vào một lượng đất đến từ nơi khác.

Võ Tòng Xuân : Đúng như thế, nó tiếp tục thay đổi. Thứ nhất là do những tác động của con người trên thượng nguồn, và thứ hai là tác động của con người ở đồng bằng sông Cửu Long. Ví dụ như khi người ta muốn làm ba vụ lúa một năm, thì người ta phải đắp đập và đê cao lên, thì những điều này ngăn lượng phù sa vô. Bên cạnh đó, bờ biển Nam Bộ hiện nay vẫn tiếp tục thay đổi. Một năm có thể đồng bằng lấn ra biển 20 đến 30 mét.

RFI : Trên mảnh đất, biến động như vậy và năng động như vậy, người ở đồng bằng Cửu Long đã khai thác như thế nào, xin giáo sư cho biết một số nét chính ?

Võ Tòng Xuân : Cho đến nay, có hai hoạt động lớn nhất. Thứ nhất là, về mặt thủy lợi, mình thực hiện căn cứ trên tài nguyên nước mà mình đang có, thiết kế lại những hệ thống để dẫn nước, hoặc tháo nước. Đây có thể nói đặc điểm riêng của đồng bằng sông Cửu Long, mà không phải chỗ nào cũng làm được. Cái thủy lợi này giúp cho mình tránh được lũ rất nhiều, cũng như là giúp cho mình tưới được nước những khi khô hạn. Gắn liền với nó là yếu tố thứ hai, giống cây trồng.

Xưa kia, ông bà chúng ta sống dựa vào thiên nhiên, vào mùa khô, ông bà mình gần như không trồng lúa. Qua tới mùa mưa thì mới trồng. Nhưng do chế độ ngập khác nhau tùy theo vùng. Tại vùng gần Campuchia, có thể ngập từ một mét rưỡi đến hai mét. Cây lúa thường không trồng được. Thành ra, với sự thanh lọc của thiên nhiên, ông bà mình chọn lại giống lúa vượt theo mực nước, dân gian gọi là « lúa nổi ». Đó là giống lúa có gen « vươn lóng », có nghĩa là lòng giữa hai đốt lúa có thể vươn lên. Khi nước giựt, lúa nằm xuống theo hướng nước giựt. Nhưng khi thu hoạch chỉ được một tấn thôi, và phải tốn đến 7 tháng, ông bà mình mới thu hoạch được một tấn lúa. Rồi bên cạnh phía dưới của vùng lúa nổi, trước khi đến vùng nhiễm mặn, là vùng ngập vừa. Ngập vừa là vùng bị ngập tối đa là 80 centimét. Nhưng khi ngập, nó ngập rất nhanh, nên ông bà mình chế ra kỹ thuật cấy lúa hai lần. Lần thứ nhất là làm mạ bình thường, rồi cấy xuống, để cho cây lúa lên tới một mét. Lúc đó, đất ngoài ruộng đã ngập lênh láng khoảng 80 centimét, thì người ta bứng lấy cây lúa một mét này để cấy lại ngoài xa.

Khi chúng ta có được giống lúa mới, rất ngắn ngày, không bị ảnh hưởng bởi « quang kỳ », tức là ngày ngắn, ngày dài, thì lúc này nông dân có thể trồng bất cứ lúc nào cũng được. Mình thu hoạch lúa trước khi nước lên. Khi nước lên, mình gặt được một vụ rồi, nhưng khi nước xuống, không lẽ mình ngồi không. Mình có thể làm thêm một vụ nữa, để khắc phục điều này, cần phải làm thủy lợi. Đó là lý do của sự ra đời của hệ thống thủy lợi hiện nay.

Vụ đông xuân : nước vừa giựt xuống, thì mình gieo lóng, khi thiếu nước thì bơm nước vô, đến tháng 2 thì mình thu hoạch. Lúc này, ánh sáng rất là chói chang, dồi dào, với đất phù sa vừa từ trên thượng nguồn xuống, nên năng suất vụ đông xuân là cao nhất, có thể nói là cao hơn các đồng bằng khác trên thế giới. Tôi đi hết các đồng bằng rồi, tôi thấy. Mình có thể đạt được 8, 9 tấn, có nơi đến 10 tấn/ha. Sau khi thu hoạch rồi, bà con để đất nghỉ khoảng 2 tháng, đến giữa hoặc cuối tháng 4 là vụ lúa hè thu, khi mưa mới đổ xuống. Khi lúa mùa này chín, thì lũ trên thượng nguồn đổ về.

Về mặt kỹ thuật, các nhà khoa học Việt Nam đã thiết kế ra một hệ thống, để bà con nông dân có thể chuyển từ một vụ lúa một tấn, hai tấn rưỡi, trở thành một vùng trồng được hai vụ, mà nếu trồng tốt có thể được đến 14, 15 tấn. Ở đây có một số vùng đạt được năng suất này, như huyện Tân Hiệp của tỉnh Kiên Giang, họ chỉ dứt khoát làm hai vụ, dưới sự chỉ đạo của ngành nông nghiệp và với sự khuyến khích của các linh mục, vì đây là vùng di cư, đồng bào Công giáo rất nghe lời các vị lãnh đạo tinh thần.

RFI : Thưa giáo sư, như thế là giáo sư vừa mô tả rất ngắn gọn, nhưng rất rõ sự chuyến biến từ một lối canh tác gần như hoàn toàn dựa vào tự nhiên, đến một canh tác phối hợp được một số ưu điểm của truyền thống, với các thành quả của cuộc cách mạng về kỹ thuật và khoa học hiện nay, để dẫn đến kết quả là năng suất tại đồng bằng sông Cửu Long rất cao. Hiện nay, ở trên thế giới, có một quan niệm mà nhiều người trong giới khoa học nông nghiệp quốc tế nói đến, tức là một nền « nông nghiệp sinh thái năng suất cao và bền vững », tức là để phân biệt với nông nghiệp năng suất cao, nhưng làm đất cạn kiệt và suy thoái. Một nền nông nghiệp như vậy có tồn tại tại đồng bằng Cửu Long không, thưa giáo sư ?

Võ Tòng Xuân : Nông nghiệp sinh thái, hiện nay, cũng đang thực hiện. Nhưng dĩ nhiên là nó đan xen với kiểu canh tác cũ. Bởi vì ở một số địa phương, các lãnh đạo muốn có nhiều lúa. Khi thấy thừa nước, mà làm hai vụ thì họ thấy uổng, nên họ vận động đắp đê, đập để làm vụ thứ ba. Ở những chỗ này, họ làm ba vụ và không để đất nghỉ. Thêm vào đó, mặc dù có những hướng dẫn của ngành nông nghiệp, nhưng có những nông dân vẫn tin là họ làm tốt hơn. Họ cho rằng bón phân như hướng dẫn không có tác dụng gì khác. Họ thấy, nếu bón riêng phân đạm, cây lúa lại xanh hơn là làm giống như theo hướng dẫn, tức là bón đầy đủ các loại phân NPK, cộng với phân hữu cơ.

Đây là số ít, nhưng họ lại làm rất mạnh, tuy nhiên, họ chỉ làm được năng suất cao trong mấy năm đầu thôi. Như thế, họ làm hại chính đất của họ.

Trong khi đó, những người nông dân biết kỹ thuật, thì vẫn duy trì được năng suất, mà không phải tốn kém nhiều, như mấy anh bên Tân Hiệp mà tôi vừa nói.

Điểm thứ nhất là, những người này luôn luôn dùng giống lúa « xác nhận », chứ họ không dùng giống lúa của mùa trước. Điểm thứ hai là, họ bón phân rất là cân đối, với NPK, nơi nào thiếu ma-nhê thì bón thêm, theo sát hướng dẫn. Đến khi thu hoạch rồi, họ để đất cho phù sa vào bồi dưỡng thêm cho đất. Giá thành sản xuất một kilogram lúa đối với những người này thấp hơn những người ham bón nhiều phân.

Một số nông dân hiện nay bắt đầu đi theo nông nghiệp sinh thái rất tài tình. Những người ở ven biển, có đất phù sa bị nhiễm mặn, họ chỉ làm được một vụ lúa trong mùa mưa. Khi họ làm xong vụ này rồi, thì họ đưa tôm vào trong ruộng lúa để làm thêm một hoặc hai vụ tôm. Tôm sinh sống trên ruộng lúa một, hai tháng trước, nó rất sung sướng sống trong nước mặn, nó được bồi dưỡng bằng các thức ăn phù hợp, từ đó nó cũng để lại một số dưỡng chất. Hệ thống lúa-tôm là một hệ thống rất nổi tiếng của đồng bằng sông Cửu Long.

RFI : Vừa rồi giáo sư cho biết lối canh tác lúa – tôm, tức là thuộc một trong năm loại đất chủ yếu của đồng bằng Cửu Long, giáo sư có thể đưa thêm một ví dụ khác được không ?

Võ Tòng Xuân : Tôi lấy ví dụ về vùng đất phù sa ven sông. Bây giờ, thay vì chỉ làm hai vụ thì có nơi, thêm một vụ đậu nành hoặc đậu xanh, bắp. Vụ này dùng nước thủy lợi để tưới. Khi thu hoạch, họ để lại xác đậu nành trong đất, để sau đó đến vụ hè thu dùng để làm đất, như vậy có rất nhiều đạm.

RFI : Theo giáo sư, có một vấn đề là, làm thế nào để thay đổi được việc người trồng lúa không thực hiện đúng các quy trình được thẩm định về mặt khoa học, theo phương thức canh tác sinh thái bền vững.

Võ Tòng Xuân : Chỉ có một cách để ghép họ vô trong cái khuôn đúng kỹ thuật, là phải tập trung họ lại để họ đồng lòng sản xuất ra một loại nguyên liệu, hoặc một sản phẩm để cho các doanh nghiệp sử dụng. Thí dụ, như bây giờ, tránh tình trạng mỗi người mạnh ai nấy làm, thì có thể tập trung họ lại, cùng giải thích về một quy trình sẽ làm. Từ đó họ sẽ làm theo. Nhưng phải có một doanh nghiệp mua sản phẩm này. Như thế người ta sẽ làm đúng theo kỹ thuật được khuyến cáo. Còn nếu không như thế, thì nếu họ tự làm, thì không những họ làm hư cho họ, mà họ còn làm hại cho môi trường, đất, không khí, sâu bệnh nó sẽ lây lan sang nơi khác.

RFI : Câu hỏi cuối cùng xin được hỏi giáo sư liên quan đến các đập thủy điện có kế hoạch được xây trên dòng Mê Kông. Giáo sư đánh giá như thế nào về tác động của chúng ? Có ý kiến cho rằng, việc này sẽ báo tử cho nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long.

Võ Tòng Xuân : Báo tử thì cũng chưa phải, nhưng nó sẽ ảnh hưởng rất lớn. Tại vì các đập sẽ chặn phù sa lại. Thứ hai là các nguồn thủy sản bị chặn lại. Nhưng cái nguy hiểm lớn nhất là dứt khoát nông nghiệp sẽ bị thiếu nước. Như thế mình sẽ phải chuyển sang những cây khác, như thế, nó có thể ảnh hưởng lớn tới lương thực của mình. Bên cạnh đó, các nước như Philippines, Indonesia hay Phi Châu sẽ không còn nguồn gạo giá rẻ mua từ Việt Nam.

Trước đây ở Lào, đã có xây các đập trên những sông nhánh, như đập Nam Nghinh, Nam Thinh, vì ở sông nhánh nên không có tác dùng gì nhiều. Nhưng các đập mới này xây trên dòng chính, nên phải nghiên cứu kỹ tác động của đập đến môi trường. Tới nay, tôi biết là người ta đã làm báo cáo đó rồi, nhưng Ủy ban sông Mê Kông với phía Lào vẫn giữ nguyên bí mật. Đây là điều mờ ám. Tôi nghĩ rằng dư luận trên thế giới cần phải phanh phui ra để chúng ta có thể thảo luận thật kỹ.

RFI : Xin chân thành cảm ơn giáo sư Võ Tòng Xuân.

Nguồn: RFI


Tài nguyên đất Thái Bình


Đất đai Thái Bình được hình thành về cơ bản là do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông lớn: Sông Hồng, sông Trà Lý (1 chỉ lưu của sông Hồng), sông Luộc (cũng là một chi nhánh của sông Hồng), sông Thái Bình.

Sự bồi tụ được tiến hành từ từ trong thời gian dài, tạo ra một châu thổ khá bằng phẳng, độ cao trên dưới 2m so với mực nước biển. Đất là tổng hợp các yếu tố tự nhiên: Địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn, các loài sinh vật (thực vật) và có sự tác động tích cực của con người. Đất Thái Bình được thành tạo từ các trầm tích phù sa cổ, phù sa mới và xác các loài thực vật trôi dạt từ thượng nguồn về, cây cối mọc lên hình thành sự trao đổi chất hai chiều giữa cây và đất. Đất cung cấp cho cây nguồn dinh dưỡng khoáng, cây sau một thời gian sinh trưởng, chu kỳ sống thì trả lại cho đất xác của chúng, làm cho đất ngày càng màu mỡ.

Khí hậu nhiệt đới ẩm, làm cho quá trình phong hóa trong lưu vực diễn ra mạnh. Mưa tập trung theo mùa mang theo khối lượng phù sa lớn từ thượng nguồn về bồi tụ cho đồng bằng Thái Bình. Sự nóng, ẩm, mưa nhiều, mực nước ngầm cao làm cho quá trình phân hủy chất hữu cơ mạnh, tạo thêm độ phì cho đất.

Bàn tay và sức lao động sáng tạo của con người đã cải tạo đất bằng nhiều biện pháp khác nhau: (Thủy lợi, chọn đối tượng trồng trọt phù hợp với từng loại đất) thâm canh.. làm cho tính chất hóa lý của đất được cải thiện, dẫn đến mùa màng bội thu.

Trong qua trình bồi tụ, tuy nói là địa hình Thái Bình bằng phẳng, song thực vật phù sa bồi tụ tạo nên địa hình chỗ cao, chỗ thấp khác nhau, sự chênh lệch độ cao của các vùng không lớn. Các vùng có độ cao từ 0,3m hoặc thấp hơn đã hình thành các vùng ngập nước quanh năm, những vùng này đất bị yếm khí. Các khoáng chất có trong đất: Fe, Mg bị khử ôxy, tan và chảy theo dòng nước rồi tụ lại thành tầng gley trong đất. Diện tích này chiếm tỷ lệ không nhiều.

Vùng đất ven biển chịu tác động của thủy triều, nước mặn thường thâm nhập vào đất liền thông qua các cửa sông, cửa cống tiêu nước, làm cho đất bị nhiễm mặn. Vùng này bao gồm các xã ven biển của hai huyện Thái Thụy và Tiền Hải. Nếu đào sâu xuống khoảng 1-3m, thường gặp nước hơi mặn (nước lợ).

* Các loại đất


Quy luật bồi đắp và tác động của con người làm cho đất Thái Bình phân hóa ra các loại sau:
- Đất phù sa trung tính không được bồi đắp hàng năm: Phân bố ở các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Đông Hưng, Vũ Thư. Phần lớn ở độ cao 1-2m, thoát ảnh hưởng của thủy triều do hệ thống thủy lợi tốt và nước ngọt từ các sông đưa về, ngăn chặn mặt ngầm. Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nặng, có màu nâu đỏ, phản ứng pH 4,5-5. Đây là loại đất có dinh dưỡng khá. Chế độ nước ngầm tầng nông tương đối ổn định, ít bị nhiễm mặn.
- Đất nhiễm mặn ít: Kéo dài thành dải ven biển của các huyện Thái Thụy, Tiền Hải. Độ mặn chính ở đây do ảnh hưởng của nước biển ngầm và kênh rạch ven biển. Mức độ nhiễm mặn thay đổi theo mùa lũ - cạn, ở các độ sâu khác nhau. Nhưng phần lớn nước ngầm tầng nông bị nhiễm mặn. Một phần mặn do hơi nước từ biển đưa vào cũng làm mặn ngay từ bề mặt. Đất mặn có hàm lượng hữu cơ cao, dinh dưỡng khá. Tuy nhiên, độ mặn là yếu tố khống chế sản xuất. Đất thường chưa ổn định, phân tầng chưa rõ rệt, thường có tầng hữu cơ là xác thực vật.
- Đất nhiễm mặn nhiều: Là các loại đất có độ muối trên 0.5%, màu xám thường bị gley mạnh. Mực nước ngầm cao và thường nhiễm mặn ngay từ bề mặt. Chúng phân bố ở ven biển và các cửa sông, các đầm nuôi thủy sản, bãi triều. Thông thường nền nước ngọt ở đây dưới 50m.
- Đất cát: Các cồn cát trong đất liền có tuổi Q³IV và cồn ngoài bãi triều mới hình thành. Cồn cát cao và thô, nước mặn ảnh hưởng rất ít đến tầng mặt. Đất ở đây thường nghèo dinh dưỡng, hơi chua. Tùy thuộc vào độ cao mà đất cát biển cũng phân hóa ra loại đất cát đã được ngọt hóa và loại nhiễm mặn. Các cồn cát cao trong nội địa đã được ngọt hóa và đất không bị nhiễm mặn, là đất thổ cư và trồng hoa màu vào mùa khô. Đất thường không chứa lớp xác thực vật bên dưới.

Đi sâu vào tìm hiểu về các loại đất của Thái Bình có các loại:
- Đất ven biển
- Đất mặn và chua mặn
- Đất ngoài đê
- Đất nội đồng không nhiễm mặn

Đất ven biển

Đất ven biển chia thành 2 loại:

Đất ven biển và cửa sông: Diện tích khoảng 120ha, nằm dọc theo bờ biển từ cửa sông Hồng đến cửa sông Thái Bình. Đây là diện tích phù sa mới được bồi đắp. Mặt đất phẳng, dốc thoải ra phía biển, trơ trọi, độ cao 25-30cm. Các bãi này thường là cát nhiễm mặn, hạt mịn. Hiện nay, các bãi này đã được trồng trọt một số cây ngập mặn để tạo điều kiện cho phù sa lắng đọng và chắn sóng biển, bảo vệ đê điều.

Cồn cát ven biển: Các cồn cát này được hình thành do được bồi tụ sớm hơn vùng bãi. Tác động của sóng, gió đưa cát từ phía biển vào bờ, tích tụ lại, dần dần dồn lại thành cồn cao. Các cồn cát này có khoảng 100ha, tập trung ở các xã Thụy Lương, Thụy Hải, Thái Đô (Thái Thụy), Đông Hoàng, Đông Long (Tiền Hải)

Đất mặn và chua mặn

Loại đất này gồm nhiều loại, căn cứ vào độ chua, độ mặn, có thể chia ra thành các loại:

Đất mặn: Là đất nằm ngoài đê biển và vùng phục cận trong đê. Đất này được bồi đắp do phù sa mịn tạo thành các vùng đất thịt nhẹ (bao gồm các vùng muối, bãi lầy trồng sú vẹt). Diện tích khoảng 200ha.

Đất nhiễm mặn: Khoảng 1.373,5ha, chiếm 1,25 diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh. Loại đất này chủ yếu ở các cửa sông và bãi bồi gần cửa sông. Huyện Thái Thụy, có 854,6ha. Tiền Hải có 518,8ha. Các diện tích đất nhiễm mặn thường nằm ngoài đê, do ảnh hưởng của thủy triều theo các cửa sông tràn vào gây nên. Diện tích này thường chỉ canh tác một vụ. Mùa khô hanh nước sông thấp, nước biển ngấm sâu, khi nước bốc hơi, một lượng muối nổi lên mặt đất. Mùa mưa, các con sông dâng cao, dòng chảy mạnh, phần nào lấn át thủy triều; Đồng thời nước sông dâng cao lên đã rửa mặn cho đất, vì thế có thể trồng cấy được vào vụ mùa. Loại đất này là phù sa mới được bồi tụ có độ pH từ trung tính đến kiềm yếu. Thành phần cơ giới của đất là hạt, có kích thước từ 0,02-0,2mm.

Đất mặn do ảnh hưởng của mạch nước ngầm: Chiếm 2.977,5ha, bằng 2,7% tổng số đất tự nhiên của tỉnh. Loại đất này thường ở nơi thấp (độ cao từ 0,25-0,50m). Nguyên nhân gây mặn là do mạch nước ngầm ở độ sâu 0,8-1m(tầng cát) gây nên, loại đất này có nhiều ở huyện Tiền Hải. Nồng độ Ca trong đất vào khoảng 0,1-0,2%, tổng số muối tan khoảng 3%. Lượng muối này thay đổi theo mùa. Mùa khô hanh, lượng muối trong đất tăng, mùa mưa lượng muối trong đất giảm.

Đất ít mặn

Diện tích khá lớn, khoảng 13.290,0ha (chiếm12,36% diện tích toàn tỉnh). Đất này có ở các huyện Tiền Hải, Thái Thụy, Đông Hưng, Kiến Xương, Quỳnh Phụ. Đó là loại đất trước kia cũng bị nhiễm mặn nhưng do quá trình canh tác, cải tạo lâu ngày, độ mặn giảm. Hơn nữa, biển lùi xa dần nên sức thẩm thấu của nước biển yếu đi, các mạch nước ngầm từ phía đất liền đẩy nước mặn do quá trình bồi đắp còn tồn đọng ra phía biển làm cho độ mặn giảm đáng kể.

Một nguyên nhân nữa khiến cho độ mặn ở vùng này giảm là do nước mặn (nước mưa, nước thải trong canh tác nông nghiệp) theo các hệ thống thủy lợi tiêu chảy ra biển.
Đất mặn chua
Chiếm diện tích nhỏ, khoảng 918.8ha, nằm rải rác ở các địa phương ven biển thuộc Thái Thụy, Tiền Hải... Loại đất này có độ mặn và độ chua cao là do nguyên nhân chúng nằm sát chân đê biển thường xuyên ngập nước, chịu sự thẩm thấu của nước biển, đồng thời do quá trình rửa trôi ở các vùng khác đem về, đọng lại ở đây.

Đất chua mặn
Chiếm diện tích tương đối lớn 16.942ha chiếm 15.65% diện tích toàn tỉnh. Chia làm hai loại: Loại thường xuyên có nước (12.554ha) nằm ở bắc Thái Thụy, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Tiền Hải và loại khô hạn (4.388ha) ở Thái Thụy, Quỳnh Phụ nằm rải rác và xen kẽ với vùng thường xuyên có nước. Hiện tượng gley, chua mặn ở vùng đất này rất phức tạp. Tầng đất sâu dưới 1m chứa xác các loài thực vật chua mặn phân hủy (sú vẹt). Phía bắc Thái Thụy và phía đông nam Quỳnh Phụ do phù sa sông Hóa và sông Thái Bình bồi đắp, lượng phù sa ít, ảnh hưởng của thủy triều vào sâu hơn làm đất chua mặn. Loại đất này hình thành một dải theo hướng tây bắc - đông nam làm thành ranh giới giữa đất mặn và không mặn. Quá trình canh tác làm độ mặn giảm đi nhưng độ chua lại tăng lên.

Đất ngoài đê

Đây là loại đất phù sa được bồi đắp hàng năm, nằm rải rác ven sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý và sông Hóa. Loại đất này có diện tích rộng lớn, phân bố không liên tục, tùy thuộc vào hướng dòng chảy của sông. Đất có độ kiềm yếu, có khoảng 3.133ha và 422ha đất phù sa được bồi do lũ dâng cao của các con sông.
Ngoài đất ven các con sông lớn, Thái Bình còn có đất cát sa bồi Ngoài sông, hình thành nên các bãi trên sông, thường bị ngập trong mùa lũ và nổi lên trong mùa cạn. Diện tích loại đất bãi này có thể thay đổi hàng năm, có nơi bị dòng chảy của sông xói vào gây lở đất.
Đất có thành phần cơ giới nhẹ (cát và cát pha), có dộ pH trung bình.

Đất nội đồng không nhiễm mặn

Đất nội đồng không nhiễm mặn chiếm diện tích rộng, phân bố ở phần phía tây tỉnh Thái Bình, chủ yếu là các huyện Hưng Hà,Vũ Thư, phần lớn huyện Đông Hưng, Kiến Xương, một phần Quỳnh Phụ. Đây là đất phù sa không được bồi đắp hàng năm, bị biến đổi do quá trình canh tác. Tùy theo sự cao thấp và quá trình khai thác mà mức độ biến đổi của đất khác nhau. Nhìn chung đất được sử dụng chủ yếu để trồng lúa, nên thường xuyên có mức độ gley từ yếu đến mạnh.

Đất phù sa không được bồi, không gley hoặc gley yếu, chua chiếm 1 diện tích khá rộng, 5,197ha, bằng 4,3% tổng số đất canh tác của Thái Bình; Nằm xen kẽ với các loại đất khác không thành vùng tập trung. Loại đất này còn có Hưng Hà, Vũ Thư và Quỳnh Phụ.

Loại đất trên thường có ở vùng thấp hoặc ở vùng cao bị rửa trôi. Tầng phù sa mỏng thường là 40-60cm. Phía dưới là cát, xen lẫn xác sú vẹt. Sự phân giải xác thực vật tạo thành acid hữu cơ làm cho đất chua. Độ chua càng xuống sâu càng giảm. Nguyên nhân nữa làm cho đất chua là quá trình canh tác không hợp lý, đất bị xói mòn, rửa trôi. Phía đông Bắc tỉnh: Quỳnh Phụ, Thái Thụy ảnh hưởng của phù sa sông Thái Bình; Vùng này có phản ứng chua; Song nhìn chung đất có độ phì cao, giàu mùn, đạm, lượng kali khá tốt, đất tốt.
Đất phù sa không bồi, gley trung bình hoặc mạnh chiếm diện tích 41.704ha, bằng 38.4% đất tự nhiên của Thái Bình. Loại đất này có ở Quỳnh Phụ, Hưng Hà,Vũ Thư, Đông Hưng và rải rác ở 1 số nơi khác.

Tính chất, mức độ gley và độ nông sâu của gley cũng phức tạp. Có khi gley trên mặt, ở độ sâu 40-100cm gley diễn ra mạnh hơn. Các lớp đất trên chủ yếu do phù sa được bồi bởi những trận vỡ đê gần đây. Qua trận vỡ đê năm 1945, phù sa được bồi dày 30-40cm ở phía tây nam Hưng Hà và một số xã thuộc huyện Vũ Thư. Mức gley của đất Thái Bình không trầm trọng bởi vì phần lớn phù sa bồi của tỉnh là do hệ thống sông Hồng, do địa hình hơi dốc về phía biển và có hệ thống sông ngòi chằng chịt, thuận lợi cho việc thoát nước, cộng với kinh nghiệm canh tác của người dân (vụ khô hanh, đất được phơi ải, mùa mưa, đất được cày và ngâm nước.

Tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng

Sản phẩm chính của Thái Bình là lúa gạo, hoa màu, thủy hải sản... Vì vậy đất là tài nguyên quý giá của tỉnh và là nguồn sinh sống của người nông dân. Là một tỉnh đã tận dụng mọi diện tích đất bình quân đầu người thấp (đất chật, người đông), vì thế nông dân Thái Bình đã tận dụng mọi diện tích đất đai hiện có thể phục vụ việc canh tác tạo ra sản phẩm nhằm duy trì và nâng cao đời sống.

Theo số liệu của Cục Thống kê năm 2000, diện tích đất tự nhiên Thái Bình là 154,224%ha, đất nông nghiệp là 96,567ha chiếm 62,6% diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Dân số 1.801.000 người bình quân gần 12 người sống trên 1ha canh tác.

Diện tích đất tự nhiên của Thái Bình có tăng, song diện tích canh tác có xu hướng giảm,. Thay vào đó là việc tăng hệ số sử dụng đất nông nghiệp, toàn bộ đất nông nghiệp được canh tác 2-3 vụ/năm, không còn diện tích chỉ cấy 1 vụ như thời Pháp thuộc (1890).

Phân theo thành phần quản lý và sử dụng:
- Các hộ gia đình, cá nhân: 67,47% diện tích đất tự nhiên, trong đó có 88,22% quỹ đất nông nghiệp của tỉnh.
- Các tổ chức kinh tế: 0.58%
- UBND xã: 31,17% tổng diện tích toàn tỉnh.

Đất nông nghiệp của tỉnh tuy chỉ có 96,567ha, bình quân trên đầu người thấp, nhưng do có nhiều kinh nghiệm sản xuất và áp dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến trong nông nghiệp nên sản lượng lương thực ngày một tăng: Năm 1976 đạt 6 tấn/ha, năm 1985 đạt 7 tấn/ha, năm 1989 đạt 8 tấn/ha

Diện tích trồng màu có 6.398ha, nhưng trồng xen canh, tăng vụ ngày càng nhiều, tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu của nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận.

Phần diện tích bố trí trồng các cây công nghiệp ngắn ngày (đay, mía, cói, dâu tằm, thuốc lào, thuốc lá, cây tinh dầu và dược liệu... cũng có xu hướng tăng.

Bên cạnh cây lúa, hoa màu, cây công nghiệp còn có những cây ăn quả như cam, quýt vải chanh nhãn, táo... được trồng nhỏ lẻ trong vườn hộ gia đình.

Đất lâm nghiệp toàn tỉnh chỉ có 2.560ha ở ven biển Thái Thụy, Tiền Hải. Rừng trên diện tích này không nhiều, một vài nơi có sú vẹt dưới bãi triều hoặc phi lao trên bờ cao. Việc bảo vệ và phát triển rừng trên diện tích này là nhiệm vụ quan trọng góp phần cố định phù sa, mở rộng diện tích tự nhiên của tỉnh.

Tổng diện tích mặt nước ao hồ gần 6.748ha. Ao hồ nằm rải rác, xen kẽ với các khu dân cư, mỗi ao có diện tích không lớn (khoảng 200-300m2). Những năm gần đây, người nông dân đã chú ý cải tạo ao hồ theo hướng trang trại để nuôi tôm cá, bước đầu đã có tín hiệu khả quan.

Theo điều tra gần đây, việc sử dụng đất canh tác của Thái Bình được phân bổ như sau:
- Thành phố Thái Bình: 2.424ha
- Huyện Quỳnh Phụ: 13.584ha
- Huyện Hưng Hà: 13.223ha
- Huyện Đông Hưng: 13.831ha
- Huyện Vũ Thư: 12.083ha
- Huyện Kiến Xương: 13.870ha
- Huyện Tiền Hải: 12.746ha
- Huyện Thái Thụy: 15.015ha